Bình giảng bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu – Văn mẫu lớp 11

Loading...
Bình giảng bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu – Văn mẫu lớp 11
Đánh giá bài viết

Bình giảng bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu – Bài làm 1 của một bạn học sinh giỏi Văn trường Chuyên Nguyễn Huệ Hà Nội

Xuân Diệu làm thơ rất sớm và thơ ông đã gây nên một tiếng vang lớn trong phong trào Thơ mới. Sau khi tập Thơ thơ ra đời vào năm 1938 (Nhà xuất bản Đời nay, Hà Nội) thì vị trí hàng đầu của Xuân Diệu trong làng thơ bấy giờ mặc nhiên được công nhận. Hoài Thanh nhận xét: “Tlĩơ Xuân Diệu chẳng những diễn đạt được cái tinh vi cố hữu của nòi giống… thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời… Khi vui cũng như khi buồn người đểu nồng nàn, tha thiết… Sự bồng bột của Xiân Diệu có lẽ dã phát biểu ra một cách dầy đủ hơn cả trong những rung động tinh vi… Xiân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới…” (Thi nhân Việt Nam – Nhà xuất bản Văn học, tái bán năm 1988).

Thơ thơ là tập thơ đầu tiên và cũng là tập thơ tiêu biểu hay vào bậc nhất của Xuân Diệu. Bài thơ Đây mùa thu tới trích trong đó.

Loading...

Mùa thu xưa nay đã làm xao động biết bao trái tim và đã hiện thành vô vàn lời thơ trong văn chương nhân loại. Những người yêu văn chương không thể không biết Thu hứng, Đăng cao của Đỗ Phủ, Thu Tầm Dương của Bạch Cư DỊ, Bài ca mùa thu của Véc-len, Thu của Bô-đơ-le, và gần hơn là thu trong thơ Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Lưu Trọng Lư, Huy Cận… Đủ tình, đủ điệu. Có điều thu trời đất thì vậy nhưng lòng người thì ai dễ giống ai và ai nói giùm cho ai được!

Xuân Diệu có cách rung động, cách diễn đạt không giống người xưa. Trong Thơ thơ, có mấy bài nói về mùa thu: Ỹ thu, Thơ duyên… và Đây mùa thu tới. Tuy có nét chung nhưng mỗi bài mang một vẻ đẹp riêng.

Ở bài Đây mùa thu tới, sau khi miêu tả những cảm nhận của mình trước cảnh thu từ gần đến xa, từ hiện đến ẩn, tác giả đi vào tâm tư con người, từ con người ngoại giới đến con người bên trong. Tất cả đều nhằm biểu hiện nỗi buồn vừa man mác vừa thấm sâu, vừa mênh mông vừa tinh tế; trong cái thế chung của sự sống bèn ngoài như nhạt phai, mất mát dần nhưng bên trong lại như chứa chất một sự vươn tới, một ước mong mơ hồ mà tha thiết.

Đã tạo thành sáo ngữ những lá vàng, hoa rụng, nhánh khô gầy khi các nhà thơ động đến mùa thu xưa nay. Xuân Diệu cũng lặp lại, không có gì mới mẻ. Mới chăng là ở cách diễn đạt và cách diễn đạt này lại do cách cảm nhận không giống ai của tác giả.

Rặng liễu đứng chịu tang, tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng là mới; mùa thu tới với áo mơ phai dệt lá vàng cũng mới. Ngày xưa báo thu tới là lá ngô rụng vàng một chiếc: Ngô đồng nhất diệp lạc – Thiên hạ cộng tri thu (Ngô đồng rụng một lá, thiên hạ biết thu sang). Xuân Diệu không trở lại với hình ảnh đã thành công thức ấy. Nhà thơ cũng không báo thu sang mà cứ mở ra bằng cảnh buồn nơi rặng liêu và sau đó như sực tỉnh nhận ra: mùa thu đã tới đây và lặp lại mùa thu tới như một sự bất ngờ mà quan trọng cần báo cho mọi người hay. Mùa thu đến như một con người khoác áo kết bằng lớ vàng nhưng nhuốm màu mơ phai nhạt. Mùa thu ấy đã thành con người và tất cả những gì của mùa thu đều sống kiếp người – thu. Liễu buồn đã đành, hoa cũng rụng cành, sắc đỏ càu nhàu với màu xanh, gió cũng run rẩy và nhánh khô gầy trơ xương mỏng manh. Phong cách học bảo đó là nhân hóa. Không đơn giản như vậy. Nhà thơ đã cảm nhận mùa thu có “cuộc sống” như con người, như lòng người. Lòng thu, hồn thu cũng như chứa chất nỗi niềm gì bên trong mà biểu hiện ra bên ngoài thì toàn là tang, lệ, phai, vàng, úa, đỗ, rụng, rung, khô gầy, mỏng manh… Con người – thu ấy có chỗ nào trùng hợp với con người, tác giả không?. Lòng tác giả và lòng thu có chỗ nào gần gũi không? Chưa đi ngay vào vấn đề này. Chỉ biết dùng cách nói như vậy về thu là kiểu riêng của nhà thơ, rất mới.

Sâu xa hơn và tinh vi hơn nhiều là sức cảm nhận của trái tim và trí tuệ nhà thơ. Đó là ở câu: Những luồng run rẩy rung rinh lá. Hoài Thanh nhận xét: “Trong cảnh mùa thu rất quen với thi nhân Việt Nam chỉ Xuân Diệu mới đế V đến: Những luồng run rẩy rung rinh lá”…”. Chúng ta có thể nhớ tới chiếc lá rơi (Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo) của Nguyễn Khuyến, hoặc chiếc lá rơi mà Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng của Trần Đăng Khoa. Các câu thơ ấy đều tả lá chứ không tá gió, nhưng ai không thấy gió. trong đó đều rất nhẹ. Đây không có gió hiện ra, chỉ có luồng run rẩy làm rung rinh lá. Lặp bốn phụ âm R là một phụ âm rung mà nghe chẳng thấy dao động mạnh mẽ gì cả, trái lại chỉ rất khẽ, khẽ rung rinh mà run rẩy cũng khẽ, cái rùng mình nhè nhẹ của gió se sẽ chuyển qua lá và lá rung rinh – ai biết lá rung rinh vì gió hay vì lạnh? Mà cái luồng run rẩy kia cũng do đâu? Gió hay lạnh? Có lẽ do cảm quan nhà thơ chỉ thấy” run rẩy và rung rinh chứ không phân biệt đó là luồng gió hay luồng lạnh, bởi cả hai đều là của mùa thu. Nhưng sự ngập ngừng mơ hồ chút ít nhu’ thế đúng là chỉ hiện ra với độ tinh vi của cảm quan thơ nhanh nhạy nhất của tác giả.

Độ tinh vi ấy là một bằng chứng: lòng tác giả đã thấm sâu vào lòng thu, sự thâm nhập không dừng ở bên ngoài mà đã đi xuyên vào bên trong. Đi vào nhưng thực là để đi ra, nói ra được điều kín sâu nhất của lòng minh. Cảnh thu đó là hồn thu, hồn thu đó là hồn nhà thơ. Chưa rõ vì lẽ gì nhưng vấn đủ buồn, khóc, ủa, rụng, run rẩy, khô gầy… Rất đau thương.

Từ liều buồn, lá vàng, hoa rụng, sắc đỏ, lá xanh, nhánh khô gầy đã chuvển sang nàng trăng ngẩn ngơ, non xa nhạt sương mờ, bến đò vắng người sang, tầng không mây vẩn, chim chóc bay đi, khí trời u uất và thiếu nữ tựa cửa không rõ nghĩ gợi gì…

Cái cao đã thay vào cái thấp (trăng thay vườn), cái xa đổi cho cái gần (non xa đổi cho hoa vườn), cái hẹp cái nhỏ chuyển sang cái rộng lớn (rặng liễu, tóc buồn, đôi nhánh khô gầy, rung rinh lá chuyển sang noĩt xa, sương mờ, từng không), Cái cụ thể nhòa thành cái mơ hồ, cái xác định tan trong cái vô định (chịu tang, buông lệ, rụng cành, sắc đỏ, màu xanh, run rẩy, rung rinh, khô gầy, mỏng manh là cụ thể, cố định, xác thực; còn ngẩn ngơ, nhạt sương mờ, luồn trong gió, chuyến đò vắng người sang, chim bay đi, hận chia li, buồn không nói, nghĩ ngợi gì đều là mơ hồ, vô định, không bến bờ, phương hướng), Trên kia đang là cảnh vật trong không gian, đây đã thêm thời gian: thỉnh thoảng, khỏi sự, đã nghe, đã vắng… mà thời gian cũng mơ hồ, dù có bắt đầu (khởi sự), có đã qua (đã nghe, đã vắng), và lặp đi lập lại (thỉnh thoảng).

Bao nhiêu sự biến chuyển ấy đưa tới hiệu lực gì? Gần hoá xa, thấp thành cao, hẹp trở nên rộng, nhỏ biến ra to, mơ hồ, vô định thay cho cụ thể, xác định… không gian đã nới rộng ra đến không còn biết đâu là biên giới, thời gian có thuỷ mà chẳng có chung. Tất cả đều là từ bên ngoài đi vào bên trong, không gian, thời gian đều là tâm trạng của cảnh vật và tàm trạng người làm thơ, trên cái thế chung là nhạt dần, phai đi, mơ hồ đi, nghiêng đổ, mất mát một cái gì mà chính mình không biết.

Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ. Ngẩn ngơ như vừa mất một cái gì, mong một cái- gì mà không tới, lơ lơ, lửng lửng, chưa thật buồn mà không còn vui. Lại là tự ngẩn ngơ. Vậy không có nguyên nhân bên ngoài mà cơ sự là bên trong, tự mình làm cho mình ngẩn ngơ. Đó là “tâm trạng” nàng trăng. Còn đây là của núi: Non xa khỏi sự nhạt sương mờ. Núi cũng chẳng còn xanh biếc bình thường. Núi đã nhạt phai trong sương mờ, trở thành lạnh lẽo bên ngoài, còn bên trong ai biêt tình núi ra sao? Mà đây mới là khởi sự, mới bắt đầu, còn kéo dài bao lâu, kéo dài tới đâu, ai hay được? Non xa đã trở nên một khối bí mật không sao hiểu nổi. Còn gió? Còn chuyến đò? Thì đây: Đã nghe rét mướt luồn trong gió – Đã vắng người sang những chuyến đò. Lạnh rồi. Những luồng run rẩy trên kia đã hiện ra là gió rồi. Và gió lạnh. Trăng ngẩn ngơ chưa phải là lạnh. Non nhạt sương mờ cũng chưa hẳn lạnh. Bây giờ là cả bầu thu quét trong gió, mênh mông và luồn vào, len vào, âm thầm, lặng lẽ cái lạnh của dất trời, không để ai biết ai hay, trừ nhà thơ biết lắng nghe và đã nghe được, bắt được cái hồn ấy của gió, cái tâm trạng của gió. Chính cái bầu trời mênh mông gió lạnh ấy đã khiến cho con đò thưa chuyên và người sang đò cũng ngại ngần mà vắng sang. Tâm trạng sâu kín của gió đã chuyển sang tâm trạng của con đò: gió thì lạnh, đò thì vắng khách sang sông.

Loading...

Đất trời thu đã đầy những ngẩn ngơ, bí mật, những lạnh luồn sâu, những vắng bóng người, như vậy thì làm gì chim chóc chẳng bay đi và khí trời không u uất những mối hận chia li? Ai chia li? Liễu chịu tang ai? Lệ rời tốc và tóc buông lệ. Hoa chia tay với cành, màu xanh chia tay với lá, xương xóc đã thay thịt da. Trăng sáng trăng xa đã đi biệt. Non biếc cũng phai nhạt rồi. Gió đã trở lạnh. Người đông đã bỏ bến đò. Chim đi. Mà tất cả, nào ai biết vì lẽ gì, chỉ thấy u và uất. Đến con người. Sang đò là con người ngoài đời, đang đi, đang hoạt động. Còn thiếu nữ tựa cửa buồn không nói thì mới là con người suy tư, con người tâm trạng.

Thế là cả không gian và thời gian đều ăm ắp tâm trạng. Tâm trạng là một gam cảm giác và xúc cảm đi từ ngẩn ngơ đến chia li. Nhưng chẳng rõ nguyên nhân do đâu? Dường như chỉ tại mùa thu. Thu ngoại giới và thu trong lòng. Vậy ý tứ mà nhà thơ đặt vào hình ảnh: ít nhiều thiếu nữ buồn không nói ở cuối bài thơ, cuối chuỗi tâm trạng này là gì? Nếu đúng đây là mùa thu Huế thì phải chăng vì màu mắt của người con gái Huế cũng đầy thu trong đó? Dù sao tả mùa thu mà không có bóng dáng con người thì sao đủ? Phải có con người và hơn nữa, tâm trạng con người. Mà cảm thương với thu thì gì bằng lòng thiếu nữ. Quả nhiên nhà thơ tính toán không lầm. Không những một cô mà nhiều cô đều cùng một điệu. Thì ra bao nổi niềm thu ở liễu, ờ hoa, ở cảnh, ở trăng, ở non, ở tầng không, ở khí trời, ở đò, ở chim… đều dồn lại hiện ra đủ hết ở các cô: ít nhiêu thiếu nữ buồn không nói – Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì? Tới đây mới thấy tất cả hồn thu đã đỉ vào hồn người. Thiếu nữ buồn nhưng không nói, chỉ tự cửa nhìn xa, còn nghĩ ngợi gì chẳng ai hay biết. Cái im lặng thật kì diệu. Ngôn ngữ nghệ thuật có cái lại. Cần nói nhiều nhất, có khi đủ nhất, thấm nhất, người ta lại nhờ cái lặng câm. Cái im lặng của các cô lại nói năng nhiều biết bao! Tự cửa là để nhìn ra mà cũng để đón vào. Nhìn ra và đón vào thì biết bao cảnh vật trước mắt, cái gần cái xa, cái thấp cái cao, cái rộng cái hẹp, cái cụ thể cái mơ hồ, cái xác định cái vô định, cái bên trong cái bên ngoài, cái ngoại giới cái tâm tư… Tất cả đều úa phai, rơi rụng, khô gầy, ngẩn ngơ, nhạt mờ,lạnh vắng, chia li, mà chẳng biết duyên do gì, hầu như một thứ định mệnh. Nhận hết thảy vào lòng, các cô chỉ có buồn, chứ chẳng nói gì. Nói làm sao được? Bởi các cô tự dưng cũng thấy mình không khác gì trời đất, cũng chỉ thấy buồn mà nào có hiểu từ đâu!

Đó, cảnh thu và tình thu là,như thế.

Thực ra, chìm sâu trong tâm trạng nhà thơ là một nồi buồn mà biểu hiện là những ngẩn ngơ, những chia li, những ủa tàn, rụng rơi, mất mát như trên đã phân tích. Nó là một tâm trạng hiện thực, nó có mặt và thấm sâu vào trong xương tuỷ. Cả thế hệ có chút học vấn, nhất là những ai mon men đến với văn chương, đểu thấy nó ngự trong tâm hồn mình khỏng biết tự bao giờ mà mình không hiểu nó từ đâu tới. Hoặc giả như người xưa đã nói: nó là mối sầu vạn cổ lâu bền như loài người, và hễ tài hoa bao nhiêu thì càng bị nó bám chặt bấy nhiêu.

Căn nguyên của mối sầu vạn cổ ấy chắc không ngoài niềm thương đối với bao bất hạnh trong xã hội bóc lột. Kẻ có tâm huyết không ai dửng dưng nên sinh ra sầu. Đối với thế hệ Xuân Diệu, trên mối sầu ấy còn chồng lên một nỗi buồn khác mà những kẻ không gặp được Cách mạng đều khống nhận thức ra, đó là nỗi buồn mất nước lẩn vào trong xương thịt mà mình không hay, không biết; chỉ thấy nó hiện lên trong tâm hồn mình và thấm vào cảnh vật thiên nhiên một cách bất ngờ khiến mình tưởng đó là nỗi buồn tự thân của thiên nhiên. Các cộ thiếu nữ trong bài thơ chỉ buồn và ôm ấp mối buồn mà không nói ra được, và dù có nghĩ suy đi nữa cũng chưa dễ đã tìm ra nguyên nhân rất sâu của nó.

Bài thơ trên đây đâu chỉ thuần tuý tả cảnh. Nó mang tâm trạng tác giả nhưng tàm trạng ấy tiềm ẩn, bàng bạc ở bên trong… Ở một tầng tâm tư sâu kín hơn và mầu nhiệm hơn, cái tâm trạng đau buồn ấy có gốc rễ từ lòng yêu nước, từ thái độ bất mãn với xã hội trước mắt, từ một mong ước tốt đẹp về cuộc đời, nhưng cuộc đời đang bị thực dân phong kiến bao vây, vùi dập không thương tiếc.

Bình giảng bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu – Bài làm 2

Xuân Diệu được đến là một nhà văn, nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam, với những đóng góp to lớn với sự nghiệp văn học của nước nhà mà cụ thể là với phong trào thơ Mới ở Việt Nam mà ông được đánh giá là “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, Xuân Diệu sáng tác đa dạng về đề tài, nhưng đặc biệt thành công trong đề tài về tình yêu đôi lứa, chẳng những vậy mà ông được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình” của Việt Nam, đến với những áng thơ tình của Xuân Diệu độc giả như bước chân vào một thế giới tràn ngập sự sống, trong một thế giới đầy đắm say, nồng nhiệt của tình yêu. Để hiểu về cảm hứng này ta tìm hiểu về một tác phẩm tiêu biểu của Xuân Diệu “Đây mùa thu tới”.

Bài thơ “Đây mùa thu tới” là bài thơ viết về khung cảnh của mùa thu, tuy đẹp nhưng thật buồn, bài thơ cũng là dòng tâm trạng của chính nhà thơ, đó là sự lưu luyến, tiếc nuối khi vẻ đẹp dần tàn úa, cùng với đó là sự hối hả của nhịp sống, nhà thơ tự nhắc nhở mình, cũng như nhắc nhở độc giả hãy sống vội vàng, gấp gáp lên vì vẻ đẹp của thời tươi trôi qua rất nhanh, nếu không tận hưởng thì nó sẽ vô tình trôi mất, còn lại chỉ là sự luyến tiếc trong vô vọng. Ngay ở phần mở đầu, nhà thơ Xuân Diệu cũng đã gợi ra bức tranh mùa thu, đây là khung cảnh tuy đẹp đấy nhưng lại man mát buồn, làm cho độc giả có sự đồng cảm với cảm xúc mà nhà thơ tha thiết truyền tải:

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Đây mùa thu tơi – mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng”

Mở ra trước mắt người đọc là hình ảnh của rặng liễu, hình ảnh thân quen thường gắn với khung cảnh của mùa thu. Và việc sử dụng hình ảnh ngỡ như đã quen thuộc đó nhưng trước sự cảm nhận và thể hiện đầy độc đáo thì chỉ một hình ảnh rặng liễu thôi nhưng cũng đã làm cho người đọc những liên tưởng khái quát đầ tiên về mùa thu. “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang” , việc sử dụng từ láy “đìu hiu” vừa gợi ra được dáng vẻ đơn độc, vừa gợi được không gian tịch mịch của không gian, hàng liễu đứng đơn độc với vẻ u sầu như chịu tang, tức là khoảng thời gian đầy khó khăn, đau thương trong cuộc sống. Những sợi tơ liễu rủ xuống làm cho nhà thơ liên tưởng đến mái tóc dài của người thiếu nữ, và hình ảnh nổi bật ở người thiếu nữ đó chính là hàng lệ tuôn dài “lệ ngàn hàng”, đó chính là nỗi buồn khi mùa thu tới, mùa của tàn úa, phôi phai “Đây mùa thu tới, mùa thu tới”.

“Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”

Từ cái nhìn khái quát, qua hình ảnh rặng liễu, báo hiệu cho người đọc biết rằng mùa thu đã về, thì nhà thơ Xuân Diệu đã đi phác họa những nét chi tiết về bức tranh mùa thu. “Hơn một loài hoa đã rụng cành”, hơn một loài hoa có nghĩa là hai hoặc rất nhiều loài hoa đã lìa khỏi cành, cách nói lượng hóa này của nhà thơ giảm đi phần mất mát, tạo tâm thế cho sự đón nhận của người đọc, thu về các loại hoa, lá rụng như một lẽ tất yếu của tự nhiên, mà dù có luyến tiếc thì con người cũng không thể thay đổi, sắc đỏ rực rỡ của các loài hoa, sắc xanh biếc của những tán lá không còn mang vẻ đẹp như ban đầu mà nó đã bắt đầu nhạt nhòa, phôi pha theo lời mời gọi của mùa thu. Những chiếc lá, bông hoa còn lại cũng run rẩy, rung rinh trước sự hấp dẫn của những cơn gió “Những luồng run rẩy rung rinh lá”, và vì những chiếc lá đã lìa cây nên những cành cây trở nên trơ trọi, hao gầy như vừa trải qua bạo bệnh “Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”.

“Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ
Non xa khởi sự nhạt sương mờ
Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò”

Mùa thu đến không chỉ làm cho cảnh vật nhuốm màu của chia li, tàn úa mà nó còn tác động đến tâm hồn, tình cảm của con người, làm cho người ta xót xa, luyến tiếc trước những mất mát, trước sự tàn úa của cảnh vật, trước không gian u buồn của cảnh vật. Tuy nhiên, cảm nhận ấy không chỉ tồn tại ở con người, mà ngay nàng trăng- nhân vật tồn tại trong thế giới tinh thần của con người cũng không tránh khỏi những cảm giác mơ hồ, buồn bã mà đôi khi ngẩn ngơ “Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ”, nàng trăng tuy chỉ tồn tại trong thế giới tâm hồn của con người, nhưng trong câu thơ này, thì nàng trăng còn tượng trưng cho vũ trụ, đất trời, thể hiện sự đồng cảm giữa thiên nhiên và con người trước sự đổi thay khi thu đến.

Ở phía xa kia, khung cảnh dường như cũng nhạt nhòa hơn bởi sự che khuất của những đám sương mờ “ Non xa khởi sự nhạt sương mờ”, những luồng sương mù này không chỉ che khuất cảnh vật mà nó còn như một làn sương mỏng trong tâm hồn của con người, làm cho con người hoang mang, bất định, vừa muốn tận hưởng nhưng cũng vừa muốn thoát ra, đó cũng là cảm giác của con người khi muốn chiêm ngưỡng cảnh sắc của mùa thu, một trong bốn mùa tươi đẹp trong năm, vừa muốn nó đừng đến vì nó đến mang đến những vẻ đẹp nhẹ nhàng nhưng lại mang đi tất cả sự sống của vạn vật. Mùa thu đến còn mang những luồng không khí giá lạnh, thổi bay đi không khí nóng bức của mùa hè, mang đến không khí mát mẻ, đó là những luồng gió mang theo cái rét mướt của mùa thu.

Không chỉ cảnh vật mà nơi bế đò, nơi vốn nhộn nhịp bởi những chuyến đò qua lại, chở đầy hàng hóa cũng như người qua sông thì thu đến, những chuyến đò thưa dần, bến sông dần vắng đi những người khách “ Đã vắng người sang những chuyến đò”. Khung cảnh của mùa thu vẫn tiếp tục được nhà thơ Xuân Diệu khắc họa trong khổ thơ cuối của bài:

“Mây vẩn từng không, chim bay đi
Khí trời u uất hận chia li
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì”

Mùa thu đến, những đám mây vơ vẩn, lặng lẽ trôi trong không gian rộng lớn của bầu trời, những đàn chim cũng bắt đầu hò reo nhau bay về phương Nam để tránh đi cái rét của ngày đông đang tới. Khí trời không cao, rộng và sáng như ngày hè, cũng không rực rỡ như những ngày xuân mà u uẩn, ngưng đọng, và trong sự cảm nhận của nhà thơ Xuân Diệu thì khí trời như đang u uất, buồn bã vì nỗi buồn phải chia li, chia li với khung cảnh tươi đẹp, chia li với vạn vật xung quanh nó “Khí trời u uất hận chia li”. Và nhân vật trữ tình của bài thơ chính là người thiếu nữ u sầu “Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói”, đó là nỗi buồn không thể dãi bày, bộc lộ nên nàng không noismaf chỉ im lặng suy nghĩ, tựa cửa nhìn xa mà không biết tâm sự ấy là gì “Tựa của nhìn xa, nghĩ ngợi gì”.

Bức tranh mùa thu được đặc tả rõ nét, chân thực mà không kém phần sống động, nhà thơ Xuân Diệu đã mang đến bức tranh thơ một khung cảnh mùa thu tuy đẹp nhưng u uất buồn, nó làm cho tâm trạng của con người như đồng cảm với sự phôi pha của cảnh vật, đó là sự tiếc nuối, lưu luyến khi phải nói lời chia li với cảnh sắc tươi đẹp, đón nhận một không gian, diện mạo mới mà mùa thu đem lại. Nhận thức từng sự chuyển biến, dù là nhỏ nhất, tinh vi nhất của cảnh vật, chứng tỏ nhà thơ không chỉ là một con người nhạy cảm, tinh tế trong cảm nhận mà còn là con người có tình yêu tha thiết với thiên nhiên, với cuộc sống.

LIKE ỦNG HỘ TÁC GIẢ