Bình giảng bài thơ Tràng giang của Huy Cận – Văn mẫu lớp 11

Loading...
Bình giảng bài thơ Tràng giang của Huy Cận – Văn mẫu lớp 11
5 (100%) 1 vote

Bình giảng bài thơ Tràng giang của Huy Cận – Bài làm 1 của một bạn học sinh chuyên Văn trường THPT Lê Quý Đôn Sơn La

Tràng giang là một trong những bài thơ xuất sắc cùa nhà thơ Huy Cặn thời kì Thơ mới. Đã có khá nhiều bài viết về tác phẩm này. Mỗi bài có những khám phá riêng, đôi chỗ rất sâu sắc và vượt quá phạm vi, cách hiểu đối với trình độ một học sinh trung học phổ thông. Để có bài viết tốt, cần hiểu hồn thơ Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám, một hồn thơ đượm nỗi buồn rầu, triền miên, dằng dặc. Nỗi buồn ấy vươn tới cả vũ trụ, vượt qua thời gian, gợi nỗi buồn trần thế, xuất phát từ chính cuộc đời nhà thơ đang sống. Ngoài ra, bài thơ còn là một công trình điêu luyện về ngôn ngữ thi ca tiếng Việt. Tràng giang là Thơ mới nhưng đã đạt đến trình độ cổ điển về ngôn ngữ. Bởi vậy, khi bình giảng, ngoài việc hiểu, còn đòi hỏi phải tỏ ra tinh tế, cần nắm một số điểm sau:

Tiêu đề bài thơ

Loading...

Bài thơ có tên Tràng giang, một từ Hán Việt. Đây cũng là điểm lạ đối với một nhà thơ mới. Nhiều bài thơ trong tập Lửa thiêng, Huy Cận đặt tên khá mộc mạc, bình dị như: Em về nhà, Trông lên, Gánh xiếc, Ngủ chung, Áo trắng. Tràng giang có nghĩa là sông dài. Riêng chữ tràng thường đọc là trường. Huy Cận đặt tên bài thơ của mình là Tràng giang, chứ không phải là Trường giang, càng không phải là Sông dài – tất cả những từ đồng nghĩa. Lí do có lẽ là như thế vừa gợi cho người đọc nhiều liên tưởng về văn hóa, mà cụ thể là con sông dài, khá nổi tiếng là Trường giang ở Trung Hoa. Song, nhà thơ đã thay trường bằng tràng, tạo ra sự phối âm (ang), gợi lên cảm giác mênh mang, dài rộng huyền hoặc hơn.

Thời thơ mới, Huy Cận hay ghi dòng đề từ trên các bài thơ là tặng một người nào đó, thường là những nhà văn, nhà thơ, những nghệ sĩ thân thiết với ông như Nhất Linh, Thạch Lam, Thế Lữ, Tú Mỡ, Hoàng Đạo, Tô Ngọc Vân. Bài này Huy Cận đề tặng Khái Hưng, người đã cùng với nhà văn Nhất Linh lập nên nhóm Tự Lực văn đoàn. Nhưng, Huy Cận không ghi bút danh quen thuộc của nhà văn này mà lại ghi tên thật của ông ta (Trần Khánh Dư). Khó có thể biết rõ lí do Huy Cận dành bài Tràng giang cho Khái Hưng. Có thể một phần vì do tình cảm quý mến, trân trọng đối với một bậc tài hoa, có công tạo đựng nên một phong trào văn chương, cũng có thể là vì Khái Hưng, bên cạnh nhiều tác phẩm viết về đề tài hôn nhân, tình yêu trong buổi đầu Âu hóa, đã viết không ít tác phẩm xuất sắc về các thời kì lịch sử đã qua như tiểu thuyết Tiêu Sơn tráng sĩ. Bên cạnh đó, trên phần đề từ còn có câu thơ của Chính Huy Cận (Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài). Câu thơ này phần nào đã thâu tóm được cả tình (bâng khuâng, nhớ thương) lẫn cảnh (trời rộng, sông dài) của Tràng giang.

Khổ hai

Mở ra một cảnh sông nước mênh mông, tưởng chừng như vô tận. Trên cái nền không gian rộng lớn ấy, hình bóng một con thuyền đơn chiếc càng thêm lẻ loi và sự xuất hiện của nó lại càng khiến cho cảnh thêm hoang vắng:

Nắng xuống chiều lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Khổ ba

Đến khổ thơ thứ ba, mọi âm thanh của cuộc sống con người đều không còn nữa, chỉ còn có cảnh vật với nhau mà cũng hết sức lặng lẽ:

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang.

Không cầu gợi chút niềm thân mật.

Loading...

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Bèo dạt mây trôi vô định; bờ xanh tiếp nối bãi vàng. Tất cả ở bên nhau mà dường như không biết có nhau, không cần có nhau. Thế mới lạ làm sao? Chỉ có một người biết rõ sự cô đơn ấy và cũng chỉ có người khao khát sự sống, cần thiết sự giao hòa. Song, mọi cánh cửa có lẽ khép, mọi mối tương giao đã không còn. Người ấy làm sao tránh nổi cô đơn?

Khổ bốn

Khổ cuối vừa có cảnh, vừa có diễn tả nỗi lòng của chủ thể trữ tình:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Cảnh ấy, tình này là lẽ đương nhiên!

Khổ thơ câu nào, hình ảnh nào cũng dễ hiểu được. Chỉ có một câu lạnh lùng:

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Xưa nay, thơ cổ điển phương Đông viết nhiều về cảnh hoàng hôn. Cảnh nào cũng đẹp, nhưng đều buồn:

Ngày mai, gió cuốn chim bay mỏi,

Dặm liễu, sương sa khách bước dồn.

(Cảnh chiều hôm – Bà Huyện Thanh Quan)

Thơ Huy Cận có cảnh hoàng hôn như thế và nỗi buồn man mác. Có người nói, khi viết: Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà, nhà thơ đã liên tưởng đến tình ý của bài Hoàng Hạc Lâu trong thơ Thôi Hiệu:

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Dịch thơ:

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

(Tản Đà)

Nhà thơ mới tiếp thu vốn văn hóa cổ, nhưng vẫn khác nhà thơ cổ. Nỗi buồn trong thơ của người xưa đôi khi do cảnh vật tạo ra, cảnh khiến người buồn. Còn ở nhà thơ hiện đại, nhất là với Huy Cận, nỗi buồn ấy như tiềm ẩn. Vì thế, người ta làm thơ không cần mượn cớ của thiên nhiên, tạo vật. Và họ thành thật giãi bày nỗi lòng mình cùng với trời đất!

Tràng giang bao trùm một nỗi buồn thương mênh mang và nhớ mong tha thiết. Bài thơ tiêu biểu cho chặng đường thơ của Huy Cận trước năm 1945, khi mà ở đó cái buồn tỏa ra từ một hồn người cơ hồ không biết đến ngoại cảnh (Hoài Thanh). Song, đó cũng là nỗi buồn của một thế hệ. nỗi buồn mang tính thời đại. Nỗi buồn ấy xuất phát từ sự bơ vơ, lạc loài và luôn khao khát được cảm thông chia sẻ trước cuộc đời. Buồn nhưng lại sáng trong và rất đáng trân trọng. Vì thế, nói như nhà thơ Xuân Diệu. “Tràng giang” là một bài thơ ca hát non sông đất nước, do đó dọn đường cho lòng yêu giang sơn, Tổ quốc.

Huy Cận đã dựng lên nỗi buồn của cả thế hệ mình. Người đã dựng và khắc ghi nó bằng cả hình ảnh lẫn âm thanh của một ngôn ngữ trác tuyệt. Vì thế. biết bao năm tháng đã trôi qua, dòng Tràng giang ấy vẫn chảy trong tâm hồn người yêu thơ Việt Nam.

Bình giảng bài thơ Tràng giang của Huy Cận – Bài làm 2

Cù Huy Cận là một gương mặt nhà thơ tiêu biểu, ngòi bút xuất sắc bậc nhất của phong trào thơ Mới ở Việt Nam. Trước Cách mạng tháng Tám, phong cách thơ văn của nhà thơ Huy Cận thường mang âm hưởng buồn bã, bi thảm, mang nỗi buồn của thời thế, nỗi sầu miên viễn. Một trong số những bài thơ mang cảm hứng đó có thể đến là bài thơ “Tràng Giang”, đây là bài thơ thể hiện nỗi niềm, tâm sự của nhà thơ về thân phận nhỏ bé của con người của cuộc đời, đó là những sự suy tư, chiêm nghiệm của một con người đầy nhạy cảm với sự chảy trôi của dòng đời với cái ngắn ngủi, vô nghĩa của con người. Bài thơ cũng thể hiện được tấm lòng, tình yêu tha thiết của nhà thơ đối với quê hương, gia đình của chính mình.

“Tràng giang” là bài thơ mà nhà thơ Cù Huy Cận tái hiện lại cảm xúc thực tại của chính mình, đó là một buổi chiều thu năm 1939, tại bến đò Chèm, nhà thơ đã ngắm nhìn khung cảnh của sông nước và trong tâm hồn dâng lên những cảm giác mơ hồ buồn, đó là những suy nghĩ về kiếp người nổi trôi, về sự nhỏ bé của con người giữa cuộc đời bao la, rộng lớn. Bài thơ thể hiện được nỗi buồn, sự lẻ loi, đơn độc của nhà thơ song cũng thể hiện được tình yêu thầm kín của đất nước, quê hương bằng tâm hồn đầy nhạy cảm trước thiên nhiên, cùng với những khát khao giao cảm với cuộc đời. Ngay phần đề từ của bài thơ, nhà thơ Huy Cận đã thể hiện được cảm hứng chủ đạo, hé mở được cảm xúc của nhà thơ trong bức tranh thơ này.

“Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, bâng khuâng gợi ra cảm giác vô định, có cái gì đó trống vắng, mơ hồ nhưng không thể diễn tả thành lời. “Trời rộng”, “sông dài” đều là những sự vật thuộc về tự nhiên, và những vật thể dường như vô tri, vô giác và không hề có mối quan hệ gì với nhau ấy đã được tác giả tạo ra mối liên hệ thân thiết thông qua sự cảm nhận đầy độc đáo của mình, đó là nỗi bâng khuâng do nỗi nhớ nhung, mong chờ cảu bầu trời rộng lớn với dòng sông mênh mông, bất tận. Ngay qua lời đề từ này ta cũng có thể nhận thấy được tâm sự phiền muộn, cô đơn của tác giả, bởi bầu trời và dòng sông vĩnh viễn không thể gặp mặt, giao thoa cùng nhau vì chúng thuộc những thế giới riêng biệt, và giữa chúng có sự ngăn cách của cả một khoảng không rộng lớn.

Từ đó ta cũng có thể liên tưởng đến một tâm hồn u uất, ảm đạm, luôn bức bối, luôn trăn trở và không tìm ra được sự giải thoát, không tìm thấy lối ra cho mình. Mở đầu bài thơ, nhà thơ Huy Cận đã gợi ra khung cảnh sông nước mênh mông nhưng quạnh quẽ, gợi ra cho con người cảm giác trống vắng, mơ hồ buồn, hoặc cũng có thể do tâm trạng của con người vốn đã đeo buồn, nên khi đứng trước thiên nhiên rộng lớn thì càng cảm nhận thấm thía được sự nhỏ bé của mình:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng”

“Tràng giang” là cách gọi chệch âm đầy độc đáo của từ “trường giang”, vì vậy mà tràng giang không chỉ gợi ra độ dài của con sông mà còn gợi mở cả về độ rộng. Trên mặt sông rộng lớn, tĩnh lặng, những con sóng nhỏ như có như không lăn tăn nhẹ trên mặt nước, và trong cảm nhận của nhà thơ thì sự chuyển động nhẹ nhàng đó như gợi ra những nỗi buồn “buồn điệp điệp”, trên dòng sông đó không chỉ có những con sóng mà còn có những con thuyền xuôi mái, nhưng không hề có sự chuyển động, tịch mịch đến tuyệt đối, vì con thuyền này xuôi mái và chảy trôi theo sự đẩy đưa của dòng nước, không có một dấu hiệu gì của sự vận động. Vì tâm trạng đeo buồn nên nhà thơ thấy ở cảnh vật những nỗi buồn, thấy nỗi đau của sự chia li “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”. Hình ảnh cành củi khô giữa dòng nước còn gợi ra sự nổi trôi, thăng trầm của một kiếp người, đó là cuộc sống bất định, phù du.

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, chiều lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”

Vẫn là miêu tả những cảnh vật mà nhà thơ nhìn thấy, cảm nhận bằng cái nhìn thị giác, nhưng với tâm trạng đeo sầu thì những sự khám phá, phát hiện ấy cũng theo hướng buồn thảm, thể hiện được sâu sắc tâm trạng của nhà thơ. “Lơ thơ” gợi ra khoảng cách xa, ít ỏi của những cồn cỏ, những bãi đất trống trên sông, sự hoang vắng được đẩy lên cùng cực, thì dù những cảnh vật ở gần hay xa tầm mắt thì vẫn lẻ loi, cô độc như thế, cồn đất trên sông nhỏ bé, không bóng dáng của sự sống mà chỉ có những cơn gió đìu hiu làm cho không gian thêm vắng lặng, tịch mịch. Không chỉ không gian của dòng sông đượm buồn mà ngoại cảnh xung quanh cũng dường như càng làm cho không gian tịch mịch ấy thêm đậm đặc “Nắng xuống, chiều lên sâu chót vót”, đó là khi nắng xuống, ánh chiều tà thay thế, bao trùm lấy không gian, làm cho bầu trời dường như rộng hơn, sâu hơn.

Và giữa dòng sông, bầu trời, bến sông cũng có mối liên hệ mật thiết và trạng thái, biểu cảm, khi nắng xuống, chiều lên cũng là khi dòng sông như dài ra, trời thêm rộng, bến sông càng vắng vẻ, quạnh quẽ không một bóng người “Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”. Sự tịch mịch của cảnh vật vẫn tiếp tục được nhà thơ thể hiện qua những câu thơ sau, đó là sự hoang vắng có cảnh vật, có sợi dây liên hệ, hay nói cách khác là tác động trực tiếp đến tâm trạng của nhà thơ:

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

Cuối cùng, trong bức tranh khung cảnh dòng sông chỉ toàn một màu đen, trắng thì cuối cùng thì sắc xanh của cánh bèo cũng đã xuất hiện, nó gợi cho người đọc liên tưởng về sự thay đổi cảm xúc của bài thơ. Nhưng, không cánh bèo xuất hiện với trạng thái nổi trôi, gắn với hình ảnh, số phận nổi trôi của con người. Không gian sông nước mênh mông càng trở lên vắng lặng khi không có sự xuất hiện của những chuyến đò ngang, những dấu hiệu của sự sống “Mênh mông không một chuyến đò ngang”, không đò, không cầu, không có bất cứ yếu tố làm cho lòng người có thêm động lực, sự sống “Không cầu gợi chút thân mật”, hiện ra trước mắt chỉ là những bờ xanh và bãi vàng, sự tiếp xúc này cũng vô cùng lặng lẽ.

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Những đám mây “lớp lớp” đan lồng, hòa quyện vào nhau, nhưng trong cái nhìn của nhà thơ Cù Huy Cận thì những đám mây đó như đang vận động, thể hiện ngay qua từ láy “đùn đùn”, gợi cho người đọc liên tưởng đến sự vận động nối tiếp, dồn dập của những đám mây để tạo thành “núi bạc”. Nếu như ở những câu thơ trên,cảnh vật chỉ hiện ra với vẻ tĩnh lặng, u sầu thì ở khổ cuối này, tuy vẫn là cảm hứng buồn, suy tư đó nhưng đã có những chuyển động, gợi ra sự vận động của cảm xúc, hình ảnh cánh chim nhỏ bé bay về tổ trong bóng chiều tà gợi cho nhà thơ nỗi nhớ thương về quê hương “Lòng quê dờn dợn vời con nước”, vì vậy mà nỗi nhớ nhà bỗng da diết, cồn cào, khắc khoải, dù không cần đến những “khói hoàng hôn”, những yếu tố gợi nhắc về quê hương.

Như vậy, bài thơ “Tràng giang” thể hiện được nỗi buồn trần thế của nhà thơ Cù Huy Cận, đó chính là những suy tư, trăn trở của nhà thơ về thân phận nhỏ bé, đơn độc của con người trước sự rộng lớn, mên mông của thiên nhiên, vũ trụ. Bài thơ thể hiện được tâm hồn đầy nhạy cảm của nhà thơ trước sự sống cũng như sự ý thức về cuộc sống của mình. Đồng thời, qua đó cũng thể hiện được tình yêu thầm kín nhưng vô cùng da diết của nhà thơ với quê nhà của mình.

Bình giảng bài thơ Tràng giang của Huy Cận – Bài làm 3

Thời điểm cuối dòng văn học lãng mạn (1930 – 1945), giữa lúc các nhà thơ lãng mạn đang sa vào bế tắc, suy đồi thì bỗng xuất hiện Huy Cận như một ngôi sao lạ. Với tập thơ "Lửa thiêng" (1940), Huy Cận đã hiện diện với một hồn thơ đa sầu đa cảm của một tâm hồn thi nhân chứa đầy bí mật.

Bài thơ "Tràng giang" với xúc cảm vũ trụ, thấm đượm tình yêu quê hương đất nước là một kiệt tác trong tập "Lửa thiêng" của nhà thơ Huy Cận.

Thiên nhiên là nguồn cảm hứng vô tận của các thi nhân lãng mạn. Nhà thơ Huy Cận cũng vậy, dòng sông Hồng đã quyến rũ ông, chiều chiều ông hay tha thẩn trên bờ sông Hồng. Hình ảnh dòng sông hiện lên trong thơ mang theo nỗi sầu của thi nhân:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Làm sao phân biệt được "sóng gợn" trong lòng, hay "sóng gợn tràng giang"? Nhạc thơ thật hay. Là nhạc sóng, nhạc sông, hay nhạc lòng?

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp.

Hai chữ đầu câu thơ là hai thanh trắc, nhịp của "sóng gợn", "điệp điệp". Giữa câu là ba thanh bằng "tràng giang buồn" trầm lắng. Con thuyền trôi lênh đênh trên dòng sông, "con thuyền xuôi mái", sóng không vỗ vào mạn thuyền mà "nước song song". Còn thuyền đã mang theo tâm trạng cô đơn của thi nhân. Sóng "buồn", nước "sầu". Cho đến một cành củi khô trôi trên dòng sông cũng như một thân phận lạc loài:

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Một cành củi khô bỗng trở nên có linh hồn là do cấu trúc ngôn ngữ, đảo ngữ "củi một cành khô" làm nổi bật sự cô độc, lạc loài, khô héo (khô trong nước mới lạ, mới tội).

Khổ thơ hay từng chữ một. Chữ nào cũng là của tràng giang mà chữ nào cũng mang theo một mảnh linh hồn của thi nhân.

Rời dòng sông, đôi mắt thi nhân lai đưa cái nhìn quan sát toàn cảnh của Tràng giang. Từng câu thơ vẫn giữ được cái dư âm của nhịp sóng tràng giang:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng bến cô liêu.

Những từ láy "lơ thơ", "đìu hiu", những nhịp đôi "nắng xuống trời lên", "sông dài trời rộng" mang theo âm hưởng của sóng, hay là những chấn động của tâm hồn thi nhân? Nhà thơ trìu mến đối với cảnh vật. Những âm thanh xa vắng cũng len vào tận hồn thi nhân.

Những tương quan không gian tạo ra vẻ đẹp mới lạ trong thơ:

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót.

Tả chiều sâu trong chiều cao không hiện đại lắm sao!

Có thể nói hình ảnh nào trong bài thơ cũng là hình ảnh của tâm trạng. Hình ảnh cũng có vậy mà không cũng vậy. Có thì là "bèo dạt về đâu hàng nối hàng" lạc loài, vô định. Còn thì là "không", không đò "mênh mông không một chuyến đò ngang", không cầu "Không cầu gợi chút niềm thân mật". Nhà thơ tha thiết với sự giao cảm, nhưng cảnh vật thì "Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng". Cái lặng lẽ bên ngoài càng làm tăng lên sự xao động trong lòng. Đây là nỗi cô đơn của một tâm hồn yêu đời, tha thiết với cuộc sống.

Nỗi lòng cô đơn của thi nhân còn mở lên chiều cao và với những hình ảnh đối lập:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Nghệ thuật tạo hình của nhà thơ cũng thật là đặc sắc. Cánh chim bé nhỏ bên núi mây bạc khổng lồ. Cái bé nhỏ càng trở nên bé nhỏ. Cảnh vật từ "lặng lẽ" chuyển sang động: mây "đùn", chim "nghiêng", "bóng chiều sa". Hình ảnh vừa nói được cái hùng vĩ của thiên nhiên, vừa bộc lộ lòng thương yêu, nâng niu đối với cái bé bỏng như cánh chim trước gió. Hãy nghe chính nhà thơ Huy Cận tâm sự: "Thiên nhiên tạo vật buồn nhưng đôi lúc bộc lộ vẻ đẹp kì vĩ lạ lùng":

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.

Mây trắng hết lớp này đến lớp khác như những búp bông trắng nở ra trên trời cao. ánh chiều trước khi vụt tắt rạng lên vẻ đẹp. Cánh chim bay liệng tuy gợi lên một chút ấm cúng cho cảnh vật nhưng nhỏ bé, mông lung quá.

Bài thơ kết thúc bằng những dòng suy tưởng:

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Từ "dợn dợn" diễn tả được trạng thái rợn ngợp của nhà thơ trước cảnh trời nước mênh mông của tràng giang. Bất giác ta nhận ra chiều sâu hun hút của hồn thơ Huy Cận:

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà…

Tứ thơ này, Huy Cận cách tân từ một ý thơ của Thôi Hiệu, trong bài "Hoàng hạc lâu":

Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu

(Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai).

Thôi Hiệu đứng trên lầu Hoàng Hạc, nhìn thấy khói sóng buổi chiều mà buồn nhớ quê hương. Còn Huy Cận thì "không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà". Trước buổi chiều tịch mịch trên bờ Tràng giang mà nhớ đến quê hương, nhớ đến một cái làng sơn cước heo hút thuộc Hương Sơn, Hà Tĩnh. Nhưng đó là bề nổi của tứ thơ này. Sâu thẳm hơn là nhà thơ đứng trên quê hương mình mà nhớ quê hương mình, cảm thấy lạc loài ngay chính trên quê hương xứ sở mình. Huy Cận nói một cách kín đáo là "lúc đó tôi buồn hơn Thôi Hiệu đời nhà Đường".

Hãy nghe người bạn tri kỉ của Huy Cận nói: "Đời xưa có một người thi sĩ lành như suối nước ngọt, hiền như cái lá xanh: gần chàng, người ta cảm nghe một nỗi hoà vui, như đứng giữa thiên nhiên, tâm hồn thơ thới. Thi sĩ thuở xưa làm những bài thơ bao la như lòng tạo vật. Xưa kia, chàng thương mến cỏ hoa, yêu dấu ân tình…" (Xuân Diệu). "Tràng giang" là tiếng thơ của tâm hồn như thế, một tâm hồn giao hoà cùng vũ trụ, sầu nhân thế, và cô đơn trước cái vô biên của trời rộng sông dài.

Bình giảng bài thơ Tràng giang của Huy Cận – Bài làm 4

 "Tràng giang" là bài thơ kiệt tác của Huy Cận rút trong tập thơ "Lửa thiêng" (1940). Bài thơ có một câu đề từ rất đậm đà: "Bâng khuâng trời rộng, nhớ sông dài". Tác giả đã có lần nói: "Tràng giang” là một bài thơ tình và tình gặp cảnh, một bài thơ về tâm hồn". "Tràng giang" tiêu biểu cho vẻ đẹp của hồn thơ Huy Cận trước cách mạng: hàm súc, cổ điển, giàu chất suy tưởng triết lí, thấm thía một nỗi buồn nhân thế "sầu trăm ngả".

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên, có 4 khổ thơ hợp thành một bộ tứ bình về tràng giang một chiều thu. Đây là khổ thơ thứ hai của "Tràng giang":

"Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu".

Từ dòng sông, sóng gợn, con thuyền xuôi mái và cành củi khô bập bềnh trôi dạt trên sóng… ở khổ một, Huy Cận nói đến cảnh tràng giang một buổi chiều mênh mông, vắng vẻ. Giọng thơ nhè nhẹ man mác buồn. Không gian nghệ thuật được mở rộng về đôi bờ và bầu trời. Những cồn cát thưa thớt nhấp nhô "lơ thơ" như nối tiếp mãi dài ra. Gió chiều nhè nhẹ thổi "đìu hiu" gợi buồn khôn xiết kể. Hai chữ "đìu hiu" gợi nhớ trong lòng người đọc một vần thơ cổ:

"Non Kì quạnh quẽ trăng treo,

Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò

(Chinh phụ ngâm)

Làng xóm đôi bờ sông, trong buổi chiều tàn cũng rất vắng lặng. Một chút âm thanh nhỏ bé lao xao trong khoảnh khắc tan chợ. vãn chợ ở đâu đây, ở từ một làng xa vẳng đến. Lấy động để tả tĩnh, câu thơ "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều" đã làm nổi bật sự ngạc nhiên, chút bâng khuâng của người lữ khách về cái vắng vẻ, cái hoang vắng của đôi bờ tràng giang. Các nhà thơ mới coi trọng tính nhạc trong thơ, vận dụng nghệ thuật phối âm, hòa thanh rất thần tình, tạo nên những vần thơ giàu âm điệu, nhạc điệu, đọc lên nghe rất thích. Hai câu thơ đầu đoạn có điệp âm "lơ thơ" và "đìu hiu", có vần lửng: "nhỏ – giỏ", có vần chân: "hiu – chiều". Câu thơ của Huy Cận làm ta liên tưởng đến câu thơ của Xuân Diệu:

"Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu

Lả lả cành hoang nắng trở chiều"…

(Thơ duyên").

Các điệp thanh: "nhỏ nhỏ", "xiêu xiêu", "lả lả"', các vần thơ, như vần lưng "nhỏ" với "gió” vần chân "xiêu” với "chiều". Những vần thơ "tươi nhạc tươi vần" ấy đã trở thành câu thơ trong trí nhớ của hàng triệu con người yêu thích văn học.

Trở lại đoạn thơ trong bài "Tràng giang” của Huy Cận, ta như được nhập hồn minh vào cõi vũ trụ mênh mông và bao la. Trời đã về chiều. Nắng từ trên cao chiếu rọi xuống làm hiện ra những khoảng sâu thăm thẳm trên bầu trời, vẻ đẹp của bầu trời thu quê hương ta đã trở thành vẻ đẹp của thi ca dân tộc: "Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao" (Thu vịnh); "Trời cao xanh ngắt – Ồ kìa…" (Tiếng sáo Thiên Thai), "Xanh biếc trời cao, bạc đất bằng" (Xuân Diệu). Thi sĩ Huy Cận lại nhận diện bầu trời không phải là cao mà là sâu, "sâu chót vót":

"Nắng xuống /trời lên sâu chót vót"

Bầu trời và lòng sông "sóng gợn" là không gian hai chiều, rộng và cao, sâu. Trời cao thăm thẳm, rộng mênh mông in xuống, soi xuống lòng sông. Người ta thường nói "cao chót vót" và "sâu thăm thẳm", nhưng Huy Cận lại cảm nhận là "sâu chót vót” vừa để làm nổi bật hai vế tiểu đối: "nắng xuống" // "trời lên", vừa gây ấn tượng về cái bao la, mênh mông đến rợn ngợp của không gian vũ trụ vô tận, và cũng là nỗi buồn như vô tận trong lòng người. Khách li hương càng cảm thấy nhỏ bé, lẻ loi và cô đơn trước không gian vô hạn của vũ trụ. Dòng sông như dài thêm ra, bầu trời như rộng thêm ra, bến đò (hay bến lòng?) như cô liêu hơn, xa vắng, quạnh hiu hơn. Lời đề từ nhà thơ đã viết: "Bâng khuâng trời rộng, nhớ sông dài", cảm hứng ấy đã được láy lại ở câu thơ số 8, mở ra một trường liên tưởng đầy ám ảnh về vũ trụ thì vô hạn vô cùng, còn kiếp người thì nhỏ hé, hữu hạn:

"Sông dài, trời rộng, bến cô liêu".

Cảnh sắc tràng giang được nói đến trong đoạn thơ là một không gian nghệ thuật đẹp mà buồn, vẻ đẹp của những dòng sông trên mọi miền đất nước hội tụ trong tâm hồn thi nhân, vẻ đẹp của tình yêu quê hương, tình yêu sông núi. Tình yêu đó mang nỗi buồn sông núi, nỗi buồn về đất nước của Huy Cận, của thế hệ các nhà thơ thời tiền chiến. "Tràng giang" đã hợp lưu trong lòng người hơn 60 năm rồi. Đọc đoạn thơ trên, ta mới thấu hiểu nỗi lòng thi nhân trước cách mạng: "Chàng Huy Cận khi xưa hay xấu lắm…

Bình giảng bài thơ Tràng giang của Huy Cận – Bài làm 5

"Tràng giang", là một bài thơ nổi tiếng, in trong tập ''Lửa thiêng" (1940) của Huy Cận. "Tràng giang" mang phong vị Đường thi khá rõ. Ngay từ hai câu đầu:

"Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song”.

Ta cảm thấy phảng phất nhạc điệu và tứ thơ của Đỗ Phủ trong bài "Đăng cao":

"Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ

Bất tận trường giang cổn cổn lai".

(Ngàn cây bát ngát lá rụng xào xạc

 Dòng sông dằng dặc nước cuồn cuộn trôi).

Có thể nói nhạc điệu và hồn thơ Đường đã thấm sâu vào tâm hồn Huy Cận từ thời niên thiếu. Nhưng "tràng giang" ở đây là thiên nhiên, đất nước Việt Nam, là những sông lớn như sông Hồng và trong thơ Huy Cận, con sông nào nước cũng dềnh lên mênh mông, bát ngát. Cảm giác về không gian trong thơ Huy Cận gắn liền với hình ảnh những dòng sông:

Tới ngã ba sông nước bốn bề…

Chiều mưa trên bãi, nước sóng đầy

Sông mát tràn xuân nước đậm bờ…

Trăng phơi đầu bãi, nước dồn mênh mang…

Đất nước, những xóm làng trù phú đã hình thành dần dần ven những con sông lớn. Sông lớn là tượng trưng cho đất nước, giang sơn bền vững muôn đời. Sau này Nguyễn Đình Thi cũng viết:

"Những dòng sông đỏ nặng phù sa

Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về…".

Sau một thời kì khám phá, tìm tòi, Thơ mới đã dần dần định hình và Xuân Diệu nhận xét: "Bài thơ hầu như trở thành cổ điển, của một nhà Thơ mới. Và một cách dõng dạc, đường hoàng, vì đây là "đại giang", là sông lớn, ví dụ nhu sông Hồng; là tràng giang: rộng bao gồm cả trường giang, dài, sâu trăm ngả chứ không phải ít ngả, vì là sông lớn… Hơi thơ cổ điển là đúng… duy câu thứ tư thì là hiện đại; thơ truyền thống của cha ông ta không đưa cái nét hiện thực, thực tế, nôm na, chân thật đến sổng sít, là “củi một cành khô trôi đi trên sông".

Thơ Huy Cận trước cách mạng thường buồn. Đó là cái buồn và nỗi cô đơn của các nhà Thơ mới lãng mạn. Tuổi trẻ của Huy Cận mang theo cái buồn heo hút của một làng sơn cước cách Linh Cảm bốn cây số và cái buồn của một gia đình nhà nho tàn tạ, có nhiều chuyện bất hòa không vui. Những kỉ niệm đau buồn của thơ ấu đã để lại ấn tượng khá sâu sắc trong tâm hồn các nhà thơ. Lớn lên, bước chân vào trường học đế quốc, họ lại gặp một tiếng khóc dài trong văn học (Tản Đà, Tương Phố, Lamactin, Muytxê…). Bước vào đời lại gặp cái đau buồn của xã hội, nỗi tủi nhục của người trí thức mất nước. Bản thân họ thì hoang mang bế tắc, không tìm thấy con đường đi… Cái buồn trong cuộc đời thực đã biến thành những dòng lệ trong văn chương. Và Huy Cận cũng như các nhà thơ lãng mạn cho rằng "cái Đẹp bao giờ cũng hơi buồn" (Kinh cầu tự). Cái buồn da diết nhất, ảo não nhất là cái buồn trong "Lửa thiêng". Ở đây, cái buồn bàng bạc của không gian, thời gian: sóng gợn tràng giang, trăng phơi đầu bãi, tiếng đìu hiu của bờ lau khóm trúc, nỗi buồn nhân thế tự ngàn xưa theo gió thổi về.. Cái buồn của Huy Cận là cái sầu vũ trụ, là cảm giác cô đơn của con người trước không gian ba chiều, mênh mông, bát ngát:

"Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu".

Sầu vũ trụ, vũ trụ ca và cách đặt tên các tập thơ sau này cũng mang cảm xúc vũ trụ: Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa… Huy Cận đã tập trung tất cả hình ảnh, nhạc điệu để làm nổi bật lên nỗi buồn cô liêu của con người trước cảnh sông dài trời rộng. Anh thích chữ "tràng giang" hơn "trường giang" vì cái âm ”ang" nghe nó mênh mông bát ngát hơn. Và hai bờ sông ở đây hoang vắng, cô liêu như thời tiền sử, bởi vì không một chiếc cầu, một chuyến đò ngang làm một đầu nối. Hai bờ của một dòng sông có thể chạy dài về phía chân trời xa như hai thế giới cô đơn, xa lạ không bao giờ gặp lại, không "chút niềm thân mật" của những tâm hồn đồng điệu.

Các nhà thơ lãng mạn đã mang cái tâm trạng buồn và cô đơn của mình phủ lên thiên nhiên. Cho nên cái thiên nhiên trong Thơ mới nói chung, trong thơ Huy Cận nói riêng, thường mênh mông, rợn ngợp hoặc xa vắng quạnh hiu. Ở đây con người thường tan biến đi, mất hút đi trong thiên nhiên. Kiếp người như cánh bèo trôi dạt, như "củi một cành khô lạc mấy dòng…" Đến bốn cấu kết:

"Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa…"

Trên cái bầu trời mênh mông, mây đùn lên thành những ngọn núi trắng xóa, xuất hiện một cánh chim bé nhỏ mà "bóng chiều sa nặng đến nỗi phải nghiêng cánh, lệch cánh" (Xuân Diệu). Trong hai câu cuối cùng, tứ thơ đã có một nét mới so với bài "Hoàng Hạc lâu" của Thôi Hiệu. Trong bài thơ của Thôi Hiệu, khách nhìn thấy khói tỏa sóng gợn mà trong lòng nhớ quê hương (Nhật mô hương quan hà xứ thị? Yên ba giang thượng sử nhãn sầu). Còn ở thơ Huy Cận là:

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Nhưng ở đây lại có một sự gặp gỡ tình cờ hoặc hữu ý giữa Huy Cận và Lưu Trường Khanh. Trong bài Từ Hụ Khẩu (Hán Khẩu) đến bài Anh Vũ gửi Trung thừa họ Nguyên, Lưu Trường Khanh viết:

"Bãi sông không có sóng vỗ và cũng không có khói bay

Khách nước Sở nhớ nhau càng thêm man mác

Mặt trời xế trên Hán Khẩu, đỡ cánh chim là là bay

Nước mùa thu trên hồ Động Đình, mênh mông liền trời".

Có thể nói cái hồn thơ Đường đã thấm khá sâu vào thơ Huy Cận. Và tuy học tập Đường thi, Huy Cận vẫn tạo nên trong thơ mình một nét riêng độc đáo của Huy Cận, của Việt Nam. Như trên đã nói: cái buồn trước cảnh "sông dài, trời rộng, bến cô liêu" là cái buồn vũ trụ của Huy Cận, và những câu:

"Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều" đã gợi lên một không khí rất quen thuộc của Việt Nam. Không khí đó gợi nhớ đến quê hương của Huy Cận một cái làng sơn cước heo hút thuộc Hương Sơn, Hà Tĩnh, ở tả ngạn sông Thâm bên núi Mồng Gà:

"Tới ngã ba sông nước bốn bề

Nửa chiều gà lạ gáy ven đê…".

Cái tiếng gà lạ lạc lõng cất lên ven một con đê hoang vắng lúc chợ chiều đã vãn, ở một miền sơn cước, nghe mà buồn đứt ruột! Cái buồn trong thơ Huy Cận là một nỗi đau đớn "cũng đất nước mà nặng buồn sông núi" (Mai sau). Các nhà lãng mạn gửi gắm vào trong thơ một tấm lòng tha thiết yêu thiên nhiên đất nước và một sự nâng niu đối với tiếng Việt, lúc bấy giờ bị xem như tiếng mẹ ghẻ, tiếng con đòi… Tiếng nói trong Thơ mới là tiếng mẹ đẻ yêu thương, phong cảnh trong Thơ mới chính là đất nước Việt Nam mĩ lệ với những vẻ đẹp riêng của từng vùng quê hương ("Quê hương" của Tế Hanh, "Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử, "Đà Lạt đêm sương" của Quách Tấn, "Chùa Hương" của Nguyễn Nhược Pháp, "Chiều xuân" của Anh Thơ…). Cho nên ta có thể dễ dàng thống nhất với Xuân Diệu khi anh viết: "Tràng giang" là một bài thơ ca hát non sông đất nước, do đó dọn đường cho lòng yêu giang sơn Tổ quốc.

Bình giảng bài thơ Tràng giang của Huy Cận – Bài làm 6

Trước Cách mạng tháng Tám, thơ Huy Cận mang nỗi buồn man mác, ngậm ngùi, nhưng đó là nhừng ngậm ngùi đẹp về thiên nhiên và tình yêu.

Sau Cách mạng tháng Tám, dòng thơ Huy Cận vẫn còn đó nỗi buồn trong suy tưởng, nhưng là nỗi buồn cảm thong với quá khứ “Sờ soạng tìm lối ra” của cha ông. Và những niềm vui rộn ràng của người trong xã hội mới.

Cả hai dòng thơ ấy đều tạo cho Huy Cận tình yêu thương, lòng cảm phục của bao thế hệ sau ông, mà dấu ấn sâu đậm nhất là tác phẩm đầu tay – tập thơ Lửa thiêng được in vào năm 1940, trong đó có bài Tràng giang.

Tràng giang, nỗi buồn mênh mông da diết sớm đưa Huy Cận vào một trong những nhà thơ hàng đầu của phong trào Thơ mới, trước năm 1945, một phong trào thơ đầy những tiếng thở dài trữ tình và lãng mạn. Chàng trai Huy Cận đã có sẵn trong người:

Một chút linh hồn nhỏ

Mang mang thiên cổ sầu.

Cái sầu lặng miên man kia lại đang đứng trước dòng sông thực với cảnh sơn thủy hữu tình, mà cũng là dòng sông đời lặng lẽ trôi theo thời gian để hoài niệm giữa khung cảnh mênh mang xuôi theo dòng cảm xúc:

Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài

Câu thơ được chọn làm đề từ cho cả bài thơ viết về con sông dài, sông lớn đã hàm chứa nỗi buồn mênh mang tỏa đầy không gian “trời rộng”, hòa lẫn vào những gì xuôi theo con nước của “con sông dài”, Rồi nỗi nhớ bâng khuâng kia được nhà thơ chi tiết hóa từng cảnh, từng cảnh nhỏ trong từng khổ thơ một…

Khổ thơ mở đầu:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song.

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Nhịp thơ 4/3 chậm rãi theo lối cố phong, giọng thơ có nhiều thanh bằng chấm dứt ở từ “dòng” hợp vần chéo (song / dòng) cùng với những từ tạo hình tạo nên không khí buồn lặng, cô đơn của những gì gắn bó với sông tại điểm mà nhà thơ quan sát.

“Sóng gợn” theo kiểu “sóng biếc theo làn hơi gợn tí” cùa Nguyễn Khuyến cứ lan tỏa nhẹ nhàng làm cho “tràng giang” cứ rộng thêm ra. Đấy chỉ là hiện tượng vật lí tự nhiên, chẳng mang tâm trạng nào nếu không có cảm xúc “buồn” của con người. Đã thế, từ láy lại “điệp điệp” làm cho không gian của tràng giang như mênh mông hơn, nỗi buồn của tràng giang đậm hơn.

Cũng là một hình ảnh động nhưng không tạo thanh giống như hình ảnh “sóng gợn”, “củi một cành khô” cô đơn trôi lặng lờ giữa bao nguồn nước chảy.

Sóng cứ gợn, củi khô cứ lạc mấy dòng, nỗi buồn cô đơn thầm lặng cứ trôi, lặng lẽ khép lại, rồi mở ra với hình ảnh “con thuyền xuôi mái nước song song”, và chỉ có hình ảnh ấy là mang tí âm thanh róc rách khua động của mái chèo xuôi, nhưng nào được bao khoảng khắc? Thuyền đi rồi, cái lặng lẽ khép lại với con nước “Sầu trăm ngả”, một nỗi sầu vô cớ, hay cái cớ hoang liêu mênh mông giữa trời chiều hiu quạnh.

Sau khi nhìn sông, nhà thơ bắt đầu quan sát bên sông. Bao người đến đây vẩn vơ quan sát như thế. Và với tâm hồn nhạy cảm của mình, Huy Cận đã ghi lại những hình ảnh cho riêng ông:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Nắng xuống trời lên sâu chót vót,

Sông dài trời rộng bến cô liêu.

Cả không gian lẫn thời gian đều buồn, cái buồn tự nhiên như tăng thêm trong tâm tưởng của người đọc. Cảnh gần xa cứ đan xen nhau giữa cồn nhỏ, làng xa và bến đò ngang. Cả khổ thơ là bức tranh có màu vàng đất nhạt làm phỏng, còn màu của cây cối trở thành gam màu phụ. Thời gian “chiều” mang nỗi buồn của tự nhiên, không gian phủ màu nắng chiều cũng buồn. Cái buồn càng tăng lên từ những từ láy âm, láy vần ở trong mỗi câu. “Cồn nhỏ” đã trơ trọi, lại thêm cây cỏ “lơ thơ” khiến gió cũng cảm thấy “đìu hiu” cô quạnh. Âm thanh tan chợ từ trong làng xa vẳng lại cũng chẳng thể nào xóa tan cái lặng lẽ nơi đây. Nỗi buồn vươn cao trong không gian với hai từ láy “chót vót”, rồi cô đặc lại ở “bến cô liêu”. Cảnh đơn sơ, bến đò không một bóng người xem ra còn ảm đạm hơn Bến đò xuân đầu trại với Con đò gối bãi… của Nguyễn Trãi ngày nào.

Dõi mắt nhìn ra lòng sông thì chỉ thấy mênh mông nước với những:

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng,

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Cả bốn câu thơ đều mang ý khẳng định những gì nhà thơ đang thấy diễn ra ở trước mắt. Đấy là nỗi cô đơn của sự tách rời, của cuộc đời không định hướng. Những cánh bèo? Nhiều lắm, “hàng nối hàng” nhưng “về đâu” ? Một câu hỏi bế tắc! Bèo đã biết số phận thiên nhiên dành cho chúng bởi những dòng nước xoáy, bởi sông gấp khúc quanh co, bởi gió lớn thổi dạt bèo vào bờ.. Còn con người, hay có thể là chính thế hệ của nhà thơ trước dòng sông cuồn cuộn của chủ nghĩa thực dân? Người đứng bên này sông khao khát được qua bên kia sông. Đò ngang và cây cầu là phương tiện, nhưng ở đây lại “không cầu”. Cái hay, cái khéo léo, tinh tế của nhà thơ là chỗ nhận ra và diễn đạt tâm lí con người “gợi chút niềm thân mật”. Cũng chẳng cần cầu bê-tông cốt sắt, mà chỉ cần những liếp tre ghềnh theo những cọc tre bắt chéo cũng là niềm ao ước của những người sống hai bên bờ. cầu đã không, một chuyến đò ngang cũng không. Cái mênh mông của sông nước, cái mênh mông của “bờ xanh tiếp bãi vàng khiến cho không gian càng mênh mông hơn. Và tất cả những tách rời, những thiếu vắng ấy càng gợi thêm nỗi buồn hiu hắt, quạnh quẽ.

Cặp mắt của nhà thơ bảng lãng nhìn xa hơn, cao hơn:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ, bóng chiều sa.

Chữ nghĩa cứ như dồn dập theo bước chạy của chiều buồn. Một phút qua đi là hoàng hôn sắp tới. Màu thời gian bây giờ là màu của sương. Đây là hiện tượng khí hậu của vùng cao. Chiều càng vào sâu thì đầu núi càng bạc những sương.. Mây bay về núi gặp những bức tường sương ấy. Thế là có hình ảnh “mây cao đùn núi bạc” như Thủy Tinh đang vây hãm Sơn Tinh. Đấy là một bức tranh hoành tráng bao phủ cô đơn. Gần hơn, giữa khoảng mênh mông thầm lặng, một cánh chim nhỏ bé đang chao nghiêng đáp xuống tán cây, chừng như về tổ? Nhà thơ chợt nhận ra “bóng chiều sa”, hoàng hôn sắp tắt. Trước cảnh thiêu nhiên tịch liêu như thế, nhà thơ cảm thấy.

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Nhà thơ đã quay về với mình trước cảnh thiên nhiên hối hả trong giờ phút chuyển giao giữa ngày và đêm. Mọi thứ như nhanh hơn. Gần gũi hơn trước mắt là chim nghiêng cảnh nhỏ bay nhanh về tố. còn nhà thơ thì vẫn đứng ở đó, trước dòng sông cô đơn sầu lặng, và nhà thơ cũng chỉ có… một mình! Dòng sông tình cảm trong nhà thơ cũng đang gợn sóng buồn điệp điệp.

Hình như chẳng có ai xa xứ mà vui trước cảnh hoàng hôn về, nhất là ở nơi có con sông ngăn cách nhưng lại không có chiếc cầu, và không một chuyến dò ngang. Ngày trước, Thôi Hiệu trong bài thơ Lầu Hoàng Hạc – Hoàng Hạc lâu cũng có hai câu thơ cuối:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Nhà thơ Tản Đà dịch:

Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Bà Huyện Thanh Quan cũng than thở trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn.

Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn ?

Và Hồ Dzếch cũng buồn:

Nhớ nhà châm điếu thuốc

Khói huyền bay lên cây.

Còn Huy Cận thì:

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Cái buồn, cái nhớ của Huy Cận đậm hơn, da diết hơn nhiều!

Trong thế giới thơ ca, viết về dòng sông là một đề tài có khá quen thuộc, với cả sóng, thuyền, cánh chim, mây trắng… nhưng ít ai có thứ ngôn ngữ diễn đạt mới và “sang” như Huy Cận trong bài Tràng giang.

Nhận xét về phong cách diễn đạt thơ của Huy Cận, nhà phê bình Hoài Thanh có viết: "… Nhưng với trí quan sát rèn luyện trong nền văn học mới, Huy Cận đã làm một việc táo bạo: tìm về những cảnh xưa, nơi bao nhiêu người đã sa lầy – tôi muốn nói sa và khuôn sáo. Người nói cùng ta nỗi buồn nơi quán chật đèo cao, nỗi buồn của sông dài trời rộng, nỗi buồn của người lữ thứ…”

Nhưng đó chỉ là nỗi buồn của người đứng ở ngã ba đường chưa nhận ra được lối đi. Khi đã nhận ra đường đi trong đời, Huy Cận càng thấy đời đẹp…

LIKE ỦNG HỘ TÁC GIẢ