Phân tích truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao – Bài làm 1 của một bạn học sinh giỏi Văn cấp tỉnh Thanh Hóa

Ai làm cho khói lên giời,

Cho mưa xuống đất, cho người biệt li ;

Ai làm cho Nam, Bắc phân kì,

Cho hai hàng lệ đầm đìa tấm thân…

Giống như âm điệu lời hát ru này, trong các sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám, những trang viết về đời sống người trí thức nghèo thường ướt đẫm nước mất. Đọc trang văn của ông, có cảm giác không phải ông đang "viết văn", mà như đang lắng nghe tiếng nói từ sâu thẳm tâm hồn mình, rồi lấy nước mắt chính mình mà viết ra, kể ra những bi kịch đau đớn của đời mình và của bạn bè mình.

Đời thừa là một trường hợp tiêu biểu cho những trang viết như thế. Ta dường như đồng thời có thể lắng nghe từ truyện ngắn này âm điệu của nhều tiếng nói pha hoà vào nhau : tiếng nói của khát vọng, tiếng nói của tình thương và cả tiếng nói của nổi đau…

Mọi khát vọng cao đẹp của người trí thức nghèo – thường là nhà giáo, nhà văn – trong sáng tác của Nam Cao, suy cho cùng và nói một cách giản dị, là được sống và viết sao cho thật sự đàng hoàng, tử tế. Nhưng cái khát vọng rất đẹp mà cũng rất chính đáng, bình dị này hoá ra lại là quá cao siêu, xa vời trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam thời Nam Cao. Nhân vật văn sĩ Hộ trong Đời thừa là hiện thân đầy đủ, sinh động cho khát vọng và nỗi đau ấy.

Cả một thời trai trẻ sôi nổi, bồng bột, "rất đáng yêu" của mình, chàng văn sĩ này luôn ôm ấp trong lòng một giấc mộng văn chương đẹp : suốt đời anh sẽ "chỉ viết một cuốn sách thôi", nhưng cuốn đó phải "đoạt giải Nô-ben” về văn học ; nó sẽ "được dịch ra hàng trăm thứ tiếng", sẽ "làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra một thời" (Xin hiểu rằng : với Hộ, cũng như với Nam Cao, cái tác phẩm đoạt giải Nô-ben văn học này, không hề là hình ảnh của một thứ hư danh hay ảo vọng viển vông của tuổi trẻ kiêu căng, trái lại, là biểu tượng đầy đủ cho một khát vọng chính đáng, cao đẹp, đáng được nâng niu, trân trọng).

Khát vọng ấy đã chuyển thành một niềm đam mê cháy lòng mà suốt một thời, Hộ đã từng ngày, từng giờ cố vượt lên chính mình, vượt lên trên hoàn cảnh, để mà theo đuổi, thực hiện. Gương mặt tinh thần của Hộ, đúng như Nam Cao đã giới thiệu, là gương mặt một nhà văn "say mê lí tưởng" : "Lòng hắn đẹp. Đầu hắn mang một hoài bão lớn. Hắn khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất. Hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn ngày một thêm nảy nở. Hắn đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán. Đối với hắn lúc ấy, nghệ thuật là tất cả ; ngoài nghệ thuật không còn gì đáng quan tâm nữa".

Một con người như thế – một người yêu văn chương, say cái đẹp, tôn thờ nghệ thuật như một thứ tôn giáo, giàu đam mê, nghị lực và rất tự tin – không thể là một người tầm thường, bốc đồng, viển vông.

Thế nhưng, giấc mộng văn chương đẹp của chàng văn sĩ này đã vấp phải một lực cản lớn : gánh nặng gia đình, áo cơm. Va đập nặng nề với hiện thực đời sống nghèo túng, mòn mỏi, cái "hoài bão lớn" kia đã dần dần tiêu tan thành mây khói. Hoá ra, cuộc sống gia đình có không ít "những bận rộn tẹp nhẹp, vô nghĩa lí, nhưng không thể không nghĩ tới". Hộ "phải cho in nhiều cuốn văn viết vội vàng", "viết những bài báo để người ta đọc rồi quên ngay sau lúc đọc", "Toàn những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ vãn bằng phẳng và quá ư dễ dãi" ; "chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương",… Và anh giật mình, chua chát nhận ra "một con người rất đáng yêu đã chẳng là mình nữa", trái lại, đã thành "một kẻ vô ích, một người thừa".

Đó là bi kịch của một người buộc phải đi ngược lại quan niệm, mơ ước của mình. Danh dự của con người trong tư cách một nhà văn chỉ được bảo đảm bằng bút lực và khả năng khơi nguồn sáng tạo của anh ta. Bi kịch là ờ chỗ, không phải ai khác, mà chính anh ta đã gần như phải tự minh bôi đen dần danh dự của minh, tự mình phải xoá bó dần hình ảnh tốt đẹp và tên họ kiêu hãnh của minh trong tâm trí người đời bằng những sáng tác hời hợt, vô vị, nhạt nhẽo.

Nhưng Hộ không chỉ là một nhà văn, anh còn là một người chồng, người cha, trụ cột gia đình. Nghĩa là, không phải một người hoàn toàn có quyền sống cho riêng mình, toàn tâm toàn ý theo đuổi đam mê, khát vọng của chính mình. Hơn thế, Hộ lại muốn làm một người chồng, người cha tốt. Phàm đã là "người" thì, theo Hộ, "không thê bỏ lòng thương". Trung thành với quan niệm này, Hộ đã sống như một người nặng tình bác ái, giàu lòng thương. Cứ xem cái cung cách anh săn sóc vợ, "hôn hít" các con, hay cái cung cách anh lặng lẽ nhìn ngắm Từ – người vợ hiền thục của anh – đầy thương cảm trong khi nàng ngủ, thì cũng đủ thấy rõ điều này.

Hơn thế, Hộ còn xem lòng thương như một nguyên tắc, một đạo lí sống. Anh có thể hi sinh nhiều thứ, kể cả tiếng tăm, danh dự, nhưng không thể để mất "lòng thương". Còn giữ được "lòng thương" thì "còn được là người". Mất nó thì trở thành "một thứ quái vật". Với Hộ, "Kẻ mạnh không phải là kể giẫm lên vai kẻ khác để thoa mãn lòng ích kỉ. Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình." Oái oăm thay, chính Hộ là người buộc phải vi phạm cái nguyên tắc "không thể bỏ lòng thương ấy". Khi buồn đời, anh cũng bốc đồng, quá chén như ai và khi đã quá chén thì cũng dễ dàng trở thành một người chồng nhẫn tâm, độc địa như ai. Nhận thức càng rõ điều đó, Hộ càng lâm vào tình trạng đau đớn, dằn vặt, càng mặc cảm nặng nề hơn. Đó là bi kịch chết mòn lòng thương, nhân cách.

Nhưng bi kịch tinh thần đau đớn nhất của Hộ, thực ra, không phải chỉ đơn thuần là chuyện tan vỡ "mộng đẹp" hay chuyện buộc phải từ bỏ "lòng thương".

Cuộc đời đã đặt anh trước một tình huống lựa chọn phi lí, nghiệt ngã : hoặc là mộng đẹp (văn chương), hoặc là tình thương, trách nhiệm (gia đình).

Bi kịch đau đớn nhất của Hộ chính là chỗ này. Dù trong tư cách nào, Hộ cũng nâng niu quý trọng lòng thương. Là người, Hộ không thể bỏ lòng thương đã đành, là nhà văn, anh lại càng không thể từ bỏ nó. Bởi vì, tác phẩm văn chương "thật có giá trị", theo anh, phái "ca tụng lòng thưong tinh bác ái, sự công bình,…", phải "làm người gần người hơn". Thế mà trên thực tế, dù lựa chọn văn chương hay gia đình thì rốt cuộc Hộ cũng buộc phải từ bỏ "lòng thương", và trước sau cũng sẽ trở thành một thằng "bất lương" hay một kẻ “khốn nạn" mà thôi. Thực ra, với Hộ, danh dự, hiếu theo nghĩa đầy dù nhất, chi có thể làm nên khi có đủ cả danh dự làm người và danh dự nhà văn. Nếu như trong tư cách nhà vãn, tìm tòi, sáng tạo là danh dự, thì trong tư cách con người, lòng thương, thái độ quý trọng con người cũng trở thành danh dự. Làm sao để có thể làm một người chủ gia đinh đàng hoàng, tử tế mang lại được niềm vui, hạnh phúc cho vợ con mình, một khi anh là nhà văn hạng bét ; sống bằng nghề văn, nhưng trong văn chương cũng như trong xã hội, anh thực chất chỉ là "một kẻ vô ích", "một người thừa" ? Làm sao có thể bằng lòng hãnh diện với một sự nghiệp văn chương, một khi mà dẫu có đánh đổi tất cả giá trị của sự nghiệp cao quý ấy, thì Hộ cũng "không nuôi nổi vợ con" mình ?

Mâu thuẫn, xung đột nội tâm ở Hộ đã nảy sinh từ tình huống lựa chọn nghiệt ngã, phi lí này. Không ai có thể giải quyết thay cho Hộ được. Chính anh phải tìm cách giải quyết lấy thôi. Bởi vì, ở đây mâu thuẫn của đời sống xã hội đã trở thành mâu thuẫn của cá nhân người trí thức nghèo, mâu thuẫn "bên ngoài" đã trở thành mâu thuẫn "bên trong".

Nhưng giải quyết bằng cách nào ? Câu trả lời thật không đơn giản. Nó là cả một bài toán khó. Và, Hộ đã loay hoay tìm cách giải quyết bài toán số phận ấy, nhưng thực tế, bao giờ anh cũng hầu như thất bại.

Có những lúc Hộ đã lầm tưởng rằng : anh có thể điều hoà mâu thuẫn này bằng cách, tạm gác giấc mộng đẹp cùng sự nghiệp văn chương lại, "đành phí một vài năm để kiếm tiền", chăm lo cho cái gia đình khốn khổ của mình nhất thời tạm ổn dã. Nhưng mà giải pháp này đã nhanh chóng phô bày tính chất không tưởng của nó : việc viết văn "vội vã" để "kiếm tiền" đã làm cho "một con người rất đáng yêu" tự đánh mất mình, thành một kẻ "đê tiện", "bất lương".

Xem thêm:  Đề số 2: Suy nghĩ của em về thái độ của nhà văn đối với người dân và quan phủ trong truyện ngắn “Sống chết mặc bay”.

Lại có những lúc, nhất là khi quá chén, Hộ đã lầm tưởng rằng : mọi nguyên nhân nỗi khổ đau, bất hạnh của đời anh chính là gánh nặng gia đình, là người vợ hiền từ và những đứa con đáng yêu kia. Anh muốn thoát bỏ gia đình, mà không được. Bế tắc và buồn chán cao độ, anh đã tìm đến bia, rượu để giải sầu, trốn vào hơi men và phũ phàng trút giận vào người vợ đáng thương của mình trong những cơn chếnh choáng. Để rồi mỗi khi tỉnh rượu, anh lại khổ sở nhận ra ràng mình không nỡ lòng và cũng không đủ "ác", đủ "tàn nhẫn" dứt tình, bỏ mặc vợ con. Những lúc ấy anh đã tự mắng nhiếc mình là "một thằng… khốn nạn".

Khốn khổ và đáng thương thay cho một chàng văn sĩ nghèo, một người chồng, người cha nghèo, giàu lòng thương nhưng cũng đầy bán khoăn mặc cảm về nhân cách như Hộ. Mộng đẹp tan vỡ, đạo sống đẹp cũng không thể thực hiện, người trí thức nghèo của Nam Cao tất yếu lâm vào tình trạng sống "thừa", "chết mòn" với những bi kịch tinh thần đau đớn.

Mâu thuẫn lồng vào mâu thuẫn, nỗi đau hoà vào nỗi đau. Dường như đối với Hộ, mất danh dự làm người trong tư cách nhà văn thì cũng mất luôn danh dự làm người trong tư cách một người chồng, người cha ; và ngược lại, không còn đủ tư cách làm người chồng, người cha thì cũng mất luôn tư cách làm một nhà văn danh giá. Trí thức, hơn ai hết, là những người trọng danh dự. Bi kịch của Hộ càng lớn khi ý thức về nỗi đau mất danh dự càng rõ rệt, dầy đủ.

Những bi kịch đau đớn như thế, Nam Cao hầu như đã từng nếm trải cả. Thách thức còn lại, lớn nhất đối với ông khi viết Đời thừa có lẽ là ở hiệu quả của cách viết : viết làm sao để có thể khơi sâu vào "cõi thầm kín" của nhân vật, sao cho câu chuyện vẽ cuộc dời của nhà văn Hộ cùng những bi kịch tinh thần đau đớn của anh, của những người như anh, trở thành một thứ tiếng nói cất lên từ cõi riêng tư thầm kín nhất, một thứ tiếng nói bên trong…

Ông đã vượt qua thách thức này như thế nào ?

Là người hiểu bi kịch và nỗi đau của người trí thức nghèo như hiểu bi kịch và nồi dau của chính mình, viết Đời thừa, Nam Cao gần như đã nhập thân vào nhân vật mà nói thay tiếng nói đau thương khắc khoải, dằn vặt, u uất trong tâm hồn họ.

Cách trần thuật của Nam Cao khá linh hoạt, biến hoá. Ông kể lại những chuyện thường ngày của Hộ, với nhiều điểm nhìn, góc nhìn khác nhau, khi thì bằng ngôn ngữ người kể chuyện, khi thì bằng ngôn ngữ độc thoại nội tâm của nhân vật. Đặc biệt nhà văn đã khéo léo nương theo dòng ý thức của các nhân vật mà kể, dẫn người đọc thám hiểm vào thế giới bên trong, và làm cho truyện ngắn có nhiều đoạn đậm sắc thái trữ tình – triết lí.

Chẳng hạn, đây là đoạn kể theo ngôn ngữ và điểm nhìn của người kể chuyện (ẩn ngầm) : "Ít lâu nay, mỗi lần ra đi. Hộ không chỉ trở về buồn bã mà thôi. Hắn say mềm. Thường thường hắn đã ngủ một nửa ngày từ khi còn ở dọc đường ; và vừa về đến nhà, chưa kịp thay quần áo, tháo giày, đã đổ như một khúc gỗ xuống bất cứ cái giường nào, ngủ say như chết".

Đây là đoạn người kể chuyện kể theo theo điểm nhìn của nhân vật Từ :

"Từ hiểu và Từ buồn lắm, buồn lắm lắm. Còn gì buồn cho bằng mình biết mình làm khổ cho người mà mình yêu ? Nhưng Từ biết làm sao được ? Đã nhiều lần Từ muốn ẵm con đi."

Đây là đoạn người kể chuyện kể theo điểm nhìn của nhân vật Hộ :

"Bây giờ Từ đang thiếp đi trên võng, đứa con nhỏ nằm bên. Từ vốn dậy sớm quen. Sáng nay, chắc Từ mệt quá, vừa mới lịm đi, nên mới ngủ trưa như thế. Đầu Từ ngoẹo về một bên. Một tay Từ trật ra ngoài mép võng, sã xuống, cái bàn tay hơi xòe ra lỏng lẻo. Dáng nằm thật là khó nhọc và khổ não. Hắn bùi ngùi. Chao ôi ! Trông Từ nằm thật đáng thương ! Hèn chi mà Từ khổ cả một đời người ! Cái tướng vất vả lộ ra cả đến trong giấc ngủ. Hộ nhớ ra rằng : một đôi lúc, nếu nhìn kĩ thì Từ khó mặt lắm. Đột nhiên Hộ nảy ra ý muốn lại gần Từ, nhìn kĩ xem mặt Từ lúc bây giờ ra sao ? Hắn rón rén, đi chân không lại. Hắn ngồi xổm ngay xuống đất, bên cạnh võng và cố thở cho thật khẽ. Hắn ngắm nghía mặt Từ lâu lấm. Da mặt Từ xanh nhợt ; môi nhợt nhạt ; mi mắt hơi tim tím và xung quanh mắt có quầng, đôi má đã hơi hóp lại khiến mặt hơi có cạnh. Hộ khẽ thở dài và lắc đầu ái ngại".

Theo đó, cách nhìn trở nên đa diện hơn, để cho câu chuyện cũng như nhân vật chính cũng lấp lánh ánh sáng từ nhiều phía hơn, sắc thái trữ tình cũng đậm hơn.

Tuy vậy, nhiều hơn cả vẫn là cách kể theo điểm nhìn của nhân vật Hộ. Khi đó, ông hoặc nương theo tâm trạng, cảm xúc của nhân vật mà tạo ra chất giọng trữ tình:

"Khốn nạn ! Khốn nạn ! Khốn nạn thay cho hắn ! Bởi vì chính hắn là một thằng khốn nạn ! Hắn chính là một kẻ bất lương !".

Hoặc nương theo những trải nghiệm của nhân vật mà tạo nên chất giọng triết lí :

"Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thoả mãn lòng ích kỉ. Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình".

Hoặc là ông sục vào kí ức (độc thoại nội tâm), lặng lẽ, tỉnh táo phán xét và kết hợp triết lí với trữ tình. Chẳng hạn :

"… Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện. Chao ôi ! Hắn đã viết những gì ? Toàn những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi. Hắn chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương. Thế nghĩa là hắn là một kẻ vô ích, một người thừa. Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nsuồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có… Hắn nghĩ thế và buồn lắm, buồn lắm ! Còn gì buồn hơn chính mình lại chán mình ?

Còn gì đau đớn hơn cho một kẻ vẫn khát khao làm một cái gì nâng cao giá trị đời sống của mình, mà kết cục chẳng làm được cái gì, chí những lo cơm áo mà đủ mệt ? Hắn để mặc vợ con khổ sở ư ? Hắn bỏ liều, hắn ruồng rẫy chúng, hắn hi sinh như người ta vẫn nói ư ?".

Cũng phải nói thêm rằng : không phải ngẫu nhiên, mà trong truyện ngắn Đời thừa, những đoạn văn mang sắc thái triết lí cũng nhiều như những đoạn văn mang sắc thái trữ tình, đều chiếm một tỉ lệ đáng kể so với lời người kể chuyện và thường đan xen với nhau một cách rất tự nhiên.

Bởi vì, trữ tình, triết lí hoặc sự kết hợp giữa trữ tình với triết lí ở đây đều góp phần làm nên một tiếng nói bên trong, tự đánh thức lương tri hoặc được soi sáng bói lương tri nhân vật. Lương tri ấy – cũng chính là lí tưởng nhân văn trong đời sống và trong nghệ thuật – có thể làm cho nhân vật hoặc đau đớn, mặc cảm, hoặc rạo rực kiêu hãnh. Đó là những suy tư triết lí hoặc mang quan điểm sáng tác dưới hình thức các "tuyên ngôn nghệ thuật", hoặc mang quan niộm về danh dự, tư cách làm người, cách ứng xử sao cho ra một con người của Nam Cao. Đó cũng là nhũng điều mà văn sĩ Hộ từng đắc ý khắc cốt ghi tâm.

Một mặt, là một nhà văn có lí tưởng, Hộ ngẫm nghĩ nhiều và khá sâu sắc về giá trị của một tác phẩm văn chương đích thực, mang tầm nhân loại ("ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình", "làm cho người gần người hơn",…). Anh cũng đòi hỏi cao về tính độc đáo, sáng tạo của sáng tác văn chương ("khơi những nguồn chưa ai khơi", "sáng tạo những cái gì chưa có",…). Mặt khác, trong tư cách người chồng, người cha, Hộ cũng luôn băn khoăn, ngẫm nghĩ về tình thương, trách nhiệm, danh dự của mình trong khi gánh vác việc gia đình ("kẻ mạnh là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình"; hắn "không thể bỏ lòng thương", "hèn biết bao là một thằng con trai không nuôi nổi vợ con thì còn mong làm nên trò gì nữa ?", V.V.).

Cách xử lí thời gian của Nam Cao trong Đời thừa cũng thú vị, tự nhiên, sáng tạo. Thời gian hiện tại được kể lại chỉ trong khoảng một ngày một đêm (từ sáng hôm trước đến sáng hôm sau) nhưng thời gian quá khứ được kể lại thì không biết chính xác bao nhiêu năm tháng đã trôi qua, chỉ biết là rất dài.

Xem thêm:  Em hiểu gì về từ sang trong câu thơ "Cuộc đời cách mạng thật là sang"

Những sự kiện thuộc về hồi ức được kể dồn vào trong khoảng hai lần "ngẩng đầu lên nhìn Hộ" (lần thứ ba và lần thứ tư) cũa Từ.

Mạch truyện bắt đầu từ hiện tại :

"Từ ngửng mặt lên nhìn Hộ ba lần. Ba lần, Từ muốn nói, nhưng lại không dám nói. Hắn đang đọc chăm chú quá. Đôi lông mày rậm của hắn châu đầu lại với nhau và hơi xếch lên một chút. Đôi mắt sáng quắc có vẻ lồi ra. Cái trán rộng hơi nhăn. Đôi lưỡng quyền đứng sừng sững trên bờ hai cái hố sâu của má thì bóng nhẫy. Cả cái mũi cao và thẳng tắp cũng bóng lên như vậy. Cái mặt hốc hác ấy, nghiêng nghiêng bên trên quyển sách, trổng khắc khổ đến thành dữ tợn. Từ thấy sợ…

Từ yêu chồng bằng một thứ tình yêu […]."

Sau đó, mạch truyện miên man theo dòng hồi ức của Hộ và Từ (khoảng bốn trang), thuật lại rất nhiều kỉ niêm, sự việc vui buồn, nhiều hành vi cao đẹp cùng những lầm lỡ, bế tắc (từ lúc Hộ còn là "một người rất đáng yêu", đến lúc anh "chẳng còn được là mình nữa").

Rồi lại quay về hiện tại :

"[…] Từ sợ cả nói với chồng. Bởi vậy ba lần nhìn chồng để toan nói, Từ thấy chồng đang đọc sách chăm chú quá, không dám nói, lại cúi mặt xuống nhìn đứa con đang nằm trong lòng Từ.

Nhưng Hộ bỗng ngoảnh mặt lên.[…]".

Và cứ thế kể về hiện tại cho đến dòng cuối cùng của tác phẩm.

Lối kết cấu và cách tạo mạch lạc như vậy khiến cho truyện ngắn tuy chỉ là một khoảnh khắc, một "lát cắt" nhỏ của đời sống, nhưng vẫn bao quát được cả một quãng đời, và cũng giúp tác giả dễ dàng khơi sâu vào bi kịch tinh thần đau đớn của nhân vật.

Như cái tên của nó, Đời thừa là chuyện đời buồn tủi, ngậm ngùi của một văn sĩ nghèo sống "thừa" bất đắc dĩ. Nam Cao, qua truyện ngắn này, đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh đối với tình trạng "chết mòn", "sống thừa" của người trí thức nghèo trong xã hội cũ, đồng thời cũng rung chuông kêu gọi giã từ cái xã hội đã đẩy con người lâm vào tình trạng bi kịch tinh thần đau đớn như thế.

Cũng như tiểu thuyết Sống mòn, truyện ngắn Đời thừa là tác phẩm thành công đặc sắc, mang đậm dấu ấn những trang đời Nam Cao cùng với khát vọng, tình thương và nỗi đau sâu thẳm của ông.

Phân tích truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao – Bài làm 2

Nếu kể tên đến những nhà văn hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam ngoài những cái tên như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng… thì Nam Cao là cái tên mà nhiều người trong chúng ta nghĩ đến. Những tác phẩm của ông đã để lại nhiều ấn tượng và suy ngẫm trong lòng người đọc. Đặc biệt là những tác phẩm trước cách mạng tháng Tám. Bên cạnh những tác phẩm nói về đề tài người nông dân thì Nam Cao còn rất thành công với đề tài người trí thức mà tiêu biểu cho chủ đề này là tác phẩm Đời Thừa.

Trước tiên chúng ta hãy tìm hiểu về nhan đề của tác phẩm này. Như chúng ta đã biết thì tác phầm giống như một đứa con tinh thần của mỗi nhà văn nhà thơ. Chính vì thế mà việc đặt tên cho những đứa con ấy rất quan trọng. Nó không chỉ mang đến sự chú ý của độc giả mà còn là ý đồ nghệ thuật của nhà văn nhằm thể hiện tư tưởng nội dung tác phẩm. Ở tác phẩm này cũng vậy, sở dĩ nhà văn lấy tên nhan đề tác phẩm là đời thừa nhằm nói lên cuộc sống bế tắc của những người tri thức trong cái xã hội trước. Nếu như người nông dân bế tắc bị lưu manh tha hóa thì người tri thức cũng rơi vào bế tắc với những bi kịch về văn học nghệ thuật và tình thương. Cái xã hội ấy không tạo điều kiện cho những người tri thức cũng như những tác phẩm văn học của họ phát triển vì gắng nặng cơm áo gạo tiền. Trong cuộc sống người ta chỉ thừa cái quần cái áo, thừa bát cơm đấu gạo. Thế mà ở đây nhân vật Hộ lại thừa đời. Có thể nói anh tư thấy bản thân mình thừa ra để vô vị, vô nghĩa trước cuộc đời, thừa ra với người thân thừa ra với chính bản thân mình. Đồng thời qua tác phẩm này ta sẽ thấy được những quan niệm sáng tác văn học của nhà văn hiện thực Nam Cao.

Cuộc đời nhân vật Hộ được phân tích dựa trên hai bi kịch lớn. đó là bi kịch nghệ thuật của nhà văn và bi kịch tình thương của anh với gia đình mình.
Trước hết là bi kịch nghệ thuật, quan điểm của Hộ trước khi gặp Từ, đó là cái thời hoài bão của anh còn rất lớn. Đối với người nghệ sĩ như anh thì đói rét không có nghĩa lý gì với một gã trẻ tuổi say mê lí tưởng. Lòng hắn đẹp tâm hồn hắn trong sáng. Không những thế đầu hắn mang một hoài bão lớn đó là “ Cả đời tôi chỉ viết một tác phẩm nhưng tác phẩm ấy sẽ làm lu mờ hết tất cả những tác phẩm ra cùng thời, tác phẩm ấy phải được ăn giải Nô- Ben và phải dịch ra mọi thứ tiếng trên toàn cầu”. Qua những tâm tư của người tri thức ấy ta thấy được một con người đam mê nghệ thuật đến mức quên đi những vụn vặt như chuyện cơm ăn áo mặc thường ngày. Anh luôn ý thức tự giác về nghề nghiệp của mình, ta thấy đây chính là một người nghệ sĩ chân chính. Số ít trong những quan niệm sáng tác của Hộ là “ Văn học không cần đến nhưng người thợ khéo tay làm theo một vài khuôn mẫu có sẵn, mà văn học chỉ dung nạp những người nghệ sĩ biết khơi những gì chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” hay “ Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là bất lương riêng sự cẩu thả trong văn chương là đê tiện”. Qua đây ta có thể khẳng định Hộ là một nhà văn tài năng có nhân cách, có quan niệm đẹp đẽ.

Khi ghép cuộc đời mình vào cuộc đời của Từ thì bi kịch nghệ thuật bắt đầu diễn ra với người nghệ sĩ này. Bây giờ Hộ không còn có một mình nữa Hộ có cả một gia đình để lo toan với những gồng gánh bận rộn tẹp nhẹp. Vợ thì đói rách con cái thì mai ôm nay đau, đứa nào cũng nhiều đẹn nhiều sài, quấy rức suốt cả ngày. Hộ phải kiếm tiền nuôi gia đình bằng cách viết văn và viết thật nhiều. Chính vì thế mà anh không thể nào đợi viết một tác phẩm cả đời được. Có những bài văn anh đọc rồi lại quên luôn, nhưng vì gia đình anh phải đi trái với quan niệm với lương tâm nghề nghiệp của mình. Anh đau khổ nhưng biết làm sao khi cả nhà trông chờ vào đồng lương ít ỏi của anh. Hộ tự thấy xấu hổ mỗi khi đọc lại chính bài viết của mình. Hộ chửi bản thân là một thằng đê tiện, khốn nạn và bất lương. Hộ vỡ mộng và rơi vào bi kịch.

Như vậy ta thấy bi kịch của Hộ không phải là bi kịch của riêng ai mà là cả bi kịch của xã hội thời bấy giờ. Ở đó giá trị con người cuộc sống và tài năng trở nên vô nghĩa. Bị kịch của Hộ chính là sự đối nghịch giữa hoàn cảnh và phẩm giá làm người.

Không chỉ chịu bi kịch của một người nghệ sĩ không được phát triển tài năng của mình mà Hộ còn phải chịu bi kịch của tình thương.

Trước khi xảy ra bi kịch thì Hộ coi tình thương là tiêu chuẩn hàng đầu để xác định nhân cách con người, kẻ mạnh là kẻ biết giúp đỡ người khác. Từ là một cô gái bị tình nhân bỏ rơi, tên tình nhân ấy không những mang đến cho cô đau khổ mà hắn con ra đi mà đẻ lại cốt nhục của mình không thương tiếc không chịu trách nhiệm với cuộc đời của Từ. Thế rồi Từ mang thai đứa con ấy, mẹ già thì mù lòa, và khi ấy chính Hộ đã cúi xuống cứu vớt cuộc đời Từ. Anh chấp nhận nuôi mẹ già và làm cha đứa trẻ trong bụng của Từ. từ đó cho thấy Hộ là một nhà văn giàu tình thương và lòng nhân ái. Và chính vì tình thương mà Hộ chấp nhận bỏ đi hoài bão lớn lao của mình để kiếm tiên nuôi gia đình. Hộ chấp nhận viết những tác phẩm giống như “thứ hồ quấy loãng” và chấp nhận là một kẻ đê tiện để có tiền nuôi gia đình. Tuy nhiên trong sâu thẳm anh vẫn dằn vặt khôn nguôi trước hoài bão của mình.

Thế nhưng khi nhận ra mình chỉ là kẻ bất lương , là một kẻ đê tiện thì Hộ lại trà đạp lên chính tình thương mà mình gây dựng và quan điểm sống của mình. Anh bắt đầu chán nản và tim đến rượu bia. Anh đánh vợ chửi con và trở thành một người chồng vũ phu. Tuy vậy anh luôn sống khổ sở bởi anh không quên được nghệ thuật. Trong Hộ có hai con người dằn xé lẫn nhau: Một là con người của văn chương nghệ thuật, một là con người của cuộc sống đời thường, một sự hi vọng, một sự đau khô u uất. Tưởng rằng tìm đến rượu sẽ làm vơi bớt nỗi đau nhưng ai ngờ chính con ma men lại càng làm nâng lên nỗi đau khổ trong lòng Hộ. Nó biến Hộ thành một kẻ vũ phu và tiếp tục rơi vào bi kịch lần nữa. Mỗi lần tỉnh dậy anh lại càng thấm thía bi kịch của bản thân mình, anh hối hận vì đối sử thô bạo với người thân, anh chửi vả mình và tự cho mình là một thằng khốn nạn.

Xem thêm:  Cảm nhận về hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu - Văn mẫu lớp 11

Như vậy qua đây ta thấy được một tấn bi kịch lớn của người tri thức đương thời. Anh Hộ là một trong những cuộc đời điển hình của những người tri thức. Biết rằng hoài bão lớn lao kia nó luôn ở trong tim nhưng ở xã hội ấy thì nó chỉ làm khổ cho chính người đang mơ ước đến nó mà thôi. Một lần nữa giá trị hiện thực lại được thể hiện ở đây

Phân tích truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao – Bài làm 3

I. MỞ BÀI

1. Truyện ngắn Đời thừa đăng trên tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy số 409 ra ngày 4/12/1943.

2. Tác giả cảm thông và xót xa đối với tấn bi kịch tinh thần đau đớn, dai dẳng của người trí thức nghèo có tài năng, có tâm huyết, giàu lòng nhân đạo trong xã hội thực dân phong kiến. Đồng thời lên án gay gắt cái xã hội ngột ngạt bóp chết mọi mơ ước, tước đi cuộc sống chân chính của con người, đã đầu độc tâm hồn con người và mối quan hệ vốn đẹp đẽ giữa người và người.

II. PHÂN TÍCH

1. Nhân vật Từ

– Ngoại hình: Nam Cao rất ít tả ngoại hình của nhân vật Từ. Phần cuối truyện, chỉ có một vài nét vẽ, tác giả tả Từ – một người đàn bà bạc mệnh: Da mặt xanh nhợt, môi nhợt nhạt, mi mắt hơi tim tím, mắt có quầng, má hơi hóp lại… Cái bàn tay lủng củng rặt những xương, cổ tay mỏng mảnh. Làn da mỏng, xanh trong, xanh lọc… Đó là hình ảnh một thiếu phụ nhiều lo lắng, thiếu về mặt vật chất. Vẻ đẹp thời con gái đã tàn phai.

– Lỡ làng vì bị tình phụ. Cảnh Từ ôm con sau ngày đẻ, nhịn đói, mẹ già bị mù, cả mẹ lẫn con chi có một cách là khóc cho, đến khi nào bao nhiêu thịt đểu chảy ra thành nước mắt hết, để rồi cùng chết cả.

– Từ là hội tụ bao đức tính tốt đẹp của người vợ yêu chồng, người mẹ thương con. Dịu dàng, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh. Từ hiểu rằng Hộ khổ là vì Từ. Từ chén nước đến cử chỉ lời nói, chị đã dành cho Hộ bao tình thương yêu. Bị Hộ say rượu hắt hủi, đánh đuổi, nhưng Từ vẫn yêu chồng, không thể ôm con bỏ đi được, vì ngoài tình yêu, Họ còn là ân nhân của chị. Từ yêu chồng bằng một thứ tình yếu rắt gần với tình của một con chó đối với người nuôi.

– Phần cuối truyện, Từ ôm lấy cổ chồng nói: "… Không!… Anh chỉ là một người khổ sớ… Chính vì em mà anh khổ…”. Nàng ru con qua dòng nước mắt… cho thấy Từ là một người bạc mệnh, nhưng bản tính rất dịu dàng, giàu đức hi sinh.

– Nam Cao với trái tim nhân đạo đã miêu tả sâu sắc tâm hồn nhân hậu của Từ, cảm thông với nỗi đau của Từ, của bao người phụ nữ bạc mệnh và đau khổ trong xã hội cũ. Tiếng ru con của Từ là tiếng thương, là nỗi đau buồn về cuộc đời bi kịch của người phụ nữ: sống trong tình yêu mà ít có hạnh phức!

2. Nhân vật Hộ.

a. Hộ là một con người giàu tình thương

– Hộ đã hành động một cách cao đẹp là nuôi Từ, nuôi mẹ già, con dại cho Từ. Lúc mẹ Từ qua đời, Hộ đã đứng ra làm ma, rất chu đáo. Hộ nhận Từ làm vợ, nhận làm bố cho đứa con thơ… Như một nghĩa cử cao đẹp, Hộ đã cứu vớt mẹ con Từ. Biết bao nhiêu là ân nghĩa. Hộ sống vì tình thương vì sự bao dung chở che, như anh quan niệm: Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình.

– Hộ là một người chồng thật sự yêu thương vợ con. Anh tính chuyện Phí đi một vài năm để kiếm tiền lo cho Từ một cái vốn làm ăn. Những lúc Từ ốm, Hộ lo xanh mặt và thức suốt đêm. Chỉ xa các con vài ngày, lúc gặp lại chúng, Hộ cảm động đến ứa nước mắt, hôn hít chúng vồ vập. Có lúc từ mồng mười đến cuối tháng, Hộ không dám bước chân ra khỏi nhà để bớt chi tiêu, hắn thương vợ con có bữa phải nhịn cơm ăn cháo, sắp nhận được tiền nhuận bút, Hộ thương đau con thơ cả tháng đói khátt khổ sở, hôm nay có tiền cũng nên cho chúng nó một bữa ăn ra hồn.

– Hộ là một nhà văn nhân đạo chủ nghĩa. Với Hộ thì trang văn là cuộc đời, thấm tình đời phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình. Nó làm cho người gần người hơn. Đó là một quan niệm rất tiến bộ, quan niệm nghệ thuật vị nhân sinh. Nhà văn phải vì con người, vì hạnh phúc của con người. Qua đó, ta thấy, là con người xã hội, là nhà văn, là người chồng người cha, trong con người và tâm hồn Hộ đều tỏa sáng một tình nhân ái bao la. Anh đã sống và hành động, vun đắp cho hạnh phúc của con người.

b. Hộ là một nhà văn trải qua một bi kịch tinh thần đau đớn, dai dẳng.

– Hộ có tài, lúc đầu, anh viết rất thận trọng. Mang một hoài bão lớn, anh băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm cùng ra một thời. Từ khi phải lo kiếm tiền nuôi vợ con, Hộ cho in nhiều cuốn văn viết vội, anh xấu hổ khi đọc lại văn mình, tự xỉ vả mình là một thằng khốn nạn, là một kẻ bất lương! Trước kia tin tường bao nhiêu thì nay đau đớn thất vọng bấy nhiêu. Hắn rũ buồn, lắc đầu tự bảo: Thôi thế là hết! Ta đã hỏng! Ta đã hỏng đứt rồi!

– Văn chương đối với Hộ như là một cái nghiệp. Nợ áo cơm ghì sát đất, nhưng anh vẫn mê văn. Hộ nói, đọc được một câu văn hay mà hiểu được thì dẫu ăn một món ăn ngon đến đâu cũng không thích bằng. Hộ điên người lên vì phải xoay tiền nhưng hắn bảo khổ thì khổ thật, nhưng thử có người giàu bạc vạn nào thuận đổi lấy cái địa vị của tôi, chưa chắc tôi đã đổi.

– Mất dần cuộc đời hồn nhiên trong sáng, có lúc chan chứa nước mắt, mặt hầm hầm. Hắn đọc sách mà trông cũng dữ tợn: đôi lông mày rậm… châu đầu lại với nhau… cái mặt hốc hác…

– Hộ đã tìm đến rượu để giải sầu, càng ngày hắn càng lún sâu vào bi kịch, say rượu và đối xử vũ phu với vợ con. Vốn rất yêu vợ con nhưng có hôm say rượu hán gườm gườm đôi mắt, đòi vật một nhát cho chết cả. Tỉnh rượu lại bẽn lẽn xin lỗi Từ hứa chừa rượu, được một thời gian ngắn, lại say, lại đánh vợ, làm những trò vừa buồn cười, vừa đáng sợ như lần trước. Trở thành bê tha hắn đã ngủ một nửa ngày từ khi còn ở dọc đường, về đến nhà thì đổ xuống giường như một khúc gỗ… ngủ say như chết! Có điều lạ, Hộ rất tỉnh khi anh bàn luận văn chương, rất biết điều và ân hận thực sự lúc tỉnh rượu. Hắn nhìn Từ xanh xao mà thương hại, nắm lấy tay Từ mà khóc, nước mắt hắn bật ra như nước một quả chanh mà người ta bóp mạnh. Và hắn khóc… Ôi chao! Hắn khóc! Hắn khóc nức nở… Rồi hắn tự lên án mình chỉ là… một thằng… khốn nạn!

Và câu hát ru còn thấm lệ của Từ như tô đậm thêm bi kịch của Hộ, của hai vợ chồng. Nỗi đau ấy được cực tả qua câu hát cho hai hàng lệ đầm đìa tấm thương. Tiếng khóc của Hộ, tiếng khóc của Từ mang ý nghĩa tố cáo cái xã hội tàn các đã cướp đi mọi mơ ước, đã đày đọa cuộc sống của mỗi gia đình, đã đầu độc tâm hồn con người và làm méo mó mối quan hệ vốn tốt đẹp giữa người và người.

– Cũng qua nhân vật Hộ, Nam Cao đã thể hiện ngòi bút hiện thực vừa tỉnh táo, sắc lạnh, vừa nặng trĩu suy nghĩ và đằm thắm yêu thương. Nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật qua dòng độc thoại, qua tiếng khóc của Hộ và Từ làm cho người đọc vô cùng thấm thìa về bi kịch của một trí thức nghèo, của một nhà văn nghèo trong xã hội cũ.

III. Kết luận

Truyện Đời thừa là một thành công tỉêu biếu của Nam Cao viết về đề tài người trí thức nghèo trước Cách mạng Truyện đã hàm chứa một tính nhân đạo và có giá trị tố cáo hiện thực sâu sắc. Truyện Đời thừa đến Độ trong Đôi mắt cũng là một nhịp đời một mhịp đời của Nam Cao đến với Cách mạng và cũng là một nhịp đời của Nam Cao đến với Cách mạng và kháng chiến.

Topics #con người #cuộc sống #Đời Thừa #giới thiệu #học sinh #nam cao #người mẹ #phân tích #quan điểm #sống đẹp #suy nghĩ #thời gian #thương vợ #tự tin #Tuổi trẻ #văn học #văn phân tích #Vũ Trọng Phụng #xin lỗi